NHĨ CĂN
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
THE EAR ORGAN
GWAN SHI YIN BODHISATTVA
Nhĩ
thời Quán Thế Âm Bồ-tát tức tùng toà khởi, đảnh lễ Phật túc nhi bạch Phật ngôn:
爾時觀世音菩薩即從座起, 頂禮佛足而白佛言。
Then Guan Shi Yin
Bodhisattva arose from his seat, bowed at the Buddha's feet and said to the
Buddha:
Thế
tôn, ức niệm ngã tích vô số hằng hà sa kiếp. Ư thời hữu Phật xuất hiện ư thế,
danh Quán Thế Âm. Ngã ư bỉ Phật phát bồ-đề tâm. Bỉ Phật giáo ngã tòng văn tư tu
nhập tam-ma-điạ.
世尊,憶念我昔無數恒河沙劫。於時有佛
出現於世,名觀世音。我於彼佛發菩提
心。彼佛教我從聞思修入三摩地。
World Honored One, I
remember when, as many kalpas ago as there are sands in the Ganges, there was a
Buddha in the world named Contemplating the World's Sounds. It was under that
Buddha that I brought forth the Bodhi-resolve. That Buddha taught me to enter
samadhi through a process of hearing and reflecting.
Sơ ư
văn trung, nhập lưu vong sở. Sở nhập ký tịch, động tĩnh nhị tướng liễu nhiên
bất sanh. Như thị tiệm tăng, văn sở văn tận. Tận văn bất trụ, giác sở giác
không. Không giác cực viên, không sở không diệt. Sanh diệt ký diệt, tịch diệt
hiện tiền.
初於聞中,入流亡所。所入既寂,動靜二相,
了然不生。如是漸增,聞所聞盡。盡聞不住,
覺所覺空。空覺極圓,空所空滅。生滅既滅,
寂滅現前。
Initially, I entered the flow through hearing
and forgot objective states. Since the sense-objects and sense-organs were
quiet, the two characteristics of movement and stillness crystallized and did
not arise. After that, gradually advancing, the hearing and what was heard both
disappeared.
Once the hearing was ended, there was nothing to rely on, and awareness
and the objects of awareness became empty. When the emptiness of awareness
reached an ultimate perfection, emptiness and what was being emptied then also
ceased to be. Since production and extinction were gone, still extinction was
revealed.
Hốt
nhiên siêu việt thế xuất thế gian, thập phương viên minh, hoạch nhị thù thắng.
忽然超越世出世間,十方圓明,獲二殊
勝。
Suddenly I transcended the mundane and
transcendental worlds, and throughout the ten directions a perfect brightness
prevailed. I obtained two supreme states.
Nhất
giả thượng hợp thập phương chư Phật bổn diệu giác tâm. Dữ Phật Như Lai đồng
nhất từ lực.
一者上合十方諸佛本妙覺心。與佛如
來同一慈力。
First, I was united above with the fundamental,
wonderfully enlightened mind of all the Buddhas of the ten directions, and I
gained a strength of compassion equal to that of all the Buddhas, the Thus Come
Ones.
Nhị
giả hạ hợp thập phương nhất thiết lục đạo chúng sanh. Dữ chư chúng sanh đồng
nhất bi ngưỡng.
二者下合十方一切六道眾生。與諸眾
生同一悲仰
Second, I was united below with all living beings in
the six paths, and I gained a kind regard for all living beings equally.
Thế
tôn, do ngã cúng dường Quán Âm Như Lai. Mông bỉ Như Lai thọ ngã Như huyễn văn
huân văn tu kim cang tam-muội. Dữ Phật Như Lai đồng từ lực cố. Linh ngã thân
thành tam thập nhị ứng, nhập chư quốc độ.
世尊由我供養觀音如來。蒙彼如來授
我如幻聞薰聞修金剛三昧。與佛如來
同慈力故。令我身成三十二應入諸國
土。
World Honored One, because I served and made
offerings to the Thus Come One, Guan Yin, I received from that Thus Come One a
transmission of the vajra samadhi of all being like an illusion, as one becomes
permeated with hearing and cultivates hearing. Because I gained a power of
compassion identical with that of all Buddhas, the Thus Come Ones, I became
accomplished in thirty-two response-bodies and entered all lands.
Phiên
âm: Thế tôn, nhược chư Bồ-tát nhập tam-ma-địa, tấn tu vô lậu, thắng giải
hiện viên, ngã hiện Phật thân nhi vị thuyết pháp, linh kỳ giải thoát.
世尊若諸菩薩入三摩地。進修無漏勝
解現圓。我現佛身而為說法令其解脫。
World Honored One, if there are Bodhisattvas who
enter samadhi and vigorously cultivate the extinction of outflows, who have
superior understanding and manifest perfected penetration, I will appear in the
body of a Buddha and speak dharma for them, causing them to attain liberation.
Nhược
chư hữu học tịch tĩnh diệu minh, thắng diệu hiện viên, ngã ư bỉ tiền, hiện Độc
giác thân nhi vị thuyết pháp linh kỳ giải thoát.
若諸有學寂靜妙明勝妙現圓,我於彼前
現獨覺身而為說法令其解脫。
If there are those who are studying, who are
tranquil and have wonderful clarity, who are superior and miraculous and
manifest perfection, I will appear before them in the body of a solitarily
enlightened one and speak dharma for them, causing them to attain liberation.
Nhược
chư hữu học đoạn thập nhị duyên. Duyên đoạn thắng tánh, thắng diệu hiện viên. Ngã
ư bỉ tiền, hiện Duyên giác thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ giải thoát.
若諸有學斷十二緣。緣斷勝性,勝妙現
圓。我於彼前。現緣覺身。而為說法
令其解脫。
If there are those who are studying, who have
severed the twelve links of conditioned causation, and, having severed the
conditions, reveal a supreme nature, and who are superior and wonderful and
manifest perfection, I will appear before them in the body of one enlightened
to conditions and speak Dharma for them, causing them to attain liberation.
Nhược
chư hữu học đắc tứ đế không. Tu đạo nhập diệt thắng tánh hiện viên. Ngã ư bỉ
tiền hiện Thanh văn thân. Nhi vị thuyết pháp linh kỳ giải thoát.
若諸有學得四諦空。修道入滅勝性現
圓。我於彼前現聲聞身。而為說法令
其解脫。
If there are those who are studying, who have
attained the emptiness of the four truths, and cultivating the Way, have
entered extinction, and have a superior nature and manifest perfection, I will
appear before them in the body of a Sound Hearer and speak dharma for them,
causing them to attain liberation.
Nhược
chư chúng sanh, dục tâm minh ngộ, bất phạm dục trần, dục thân thanh tịnh. Ngã ư
bỉ tiền hiện Phạm vương thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ giải thoát.
若諸眾生。欲心明悟。不犯欲塵欲身
清淨。我於彼前現梵王身。而為說法
令其解脫。
If there are living beings who wish to have their
minds be clear and awakened, who do not engage in mundane desires and wish to
purify their bodies, I will appear before them in the body of a Brahma king and
speak dharma for them, causing them to attain liberation.
Nhược
chư chúng sanh dục vi thiên chủ thống lĩnh chư thiên. Ngã ư bỉ tiền hiện Đế
thích thân. Nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生欲為天主統領諸天。我於彼
前現帝釋身。而為說法令其成就。
If there are living beings who wish to be the
Heavenly Lord, leader of heavenly beings, I will appear before them in the body
of Shakra and speak dharma for them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
chư chúng sanh dục thân tự tại, du hành thập phương, ngã ư bỉ tiền hiện Tự tại
thiên thân. Nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生欲身自在遊行十方。我於彼
前現自在天身。而為說法令其成就
If living beings wish to attain physical
self-mastery and to roam throughout the ten directions, I will appear before
them in the body of a god from the heaven of self-mastery and speak dharma for
them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
chư chúng sanh dục thân tự tại phi hành hư không, ngã ư bỉ tiền, hiện Đại Tự
tại thiên thân. Nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生欲身自在飛行虛空。我於彼
前現大自在天身。而為說法令其成就。
If there are living
beings who wish to attain physical self-mastery and fly through space, I will
appear before them in the body of a god from the heaven of great self-mastery
and speak dharma for them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
chư chúng sanh ái thống quỷ thần, cứu hộ quốc độ, ngã ư bỉ tiền hiện Thiên Đại
tướng quân thân nhi vị thuyết pháp, linh kỳ thành tựu.
若諸眾生愛統鬼神救護國土。我於彼
前現天大將軍身。而為說法令其成就。
If there are living
beings who are fond of ruling over ghosts and spirits in order to rescue and
protect their country, I will appear before them in the body of a great
heavenly general and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their
wish.
Nhược
chư chúng sanh ái thống thế giới, bảo hộ chúng sanh, ngã ư bỉ tiền hiện Tứ
thiên vương thân, nhi vị thuyết pháp, linh kỳ thành tựu.
若諸眾生愛統世界保護眾生。我於彼
前現四天王身,而為說法令其成就。
If there are living
beings who like to govern the world in order to protect living beings, I will
appear before them in the body of one of the Four Heavenly Kings and speak
Dharma for them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
chư chúng sanh ái sanh thiên cung, khu sử quỷ thần, ngã ư bỉ tiền hiện Tứ thiên
vương quốc Thái tử thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生愛生天宮驅使鬼神。我於彼
前現四天王國太子身。而為說法令其
成就。
If there are living beings who enjoy being born in the heavenly palaces and to command ghosts and spirits, I will appear before them in the body of a prince from the kingdoms of the Four Heavenly Kings and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
chư chúng sanh nhạo vi nhơn chủ, ngã ư bỉ tiền hiện Nhơn vương thân, nhi vị
thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生樂為人主。我於彼前現人王
身,而為說法令其成就。
If there are living
beings who would like to be kings of people, I will appear before them in the
body of a human king and speak Dharma for them, enabling them to accomplish
their wish.
Nhược
chư chúng sanh ái chủ tộc tánh, thế gian suy nhượng, ngã ư bỉ tiền hiện trưởng
giả thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生愛主族姓世間推讓。我於彼
前現長者身。而為說法令其成就。
If there are living
beings who enjoy being heads of households, whom those of the world venerate
and yield to, I will appear before them in the body of an elder and speak
Dharma for them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
chư chúng sanh ái đàm danh ngôn, thanh tịnh kỳ cư. Ngã ư bỉ tiền hiện cư sĩ
thân. Nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生愛談名言清淨其 居。我於彼
前現居士身。而為說法令其成就。
If there are living
beings who delight in discussing the classics and who keep themselves lofty and
pure, I will appear before them in the body of an upasaka and speak Dharma for
them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
chư chúng sanh ái trị quốc độ, phẫu đoán bang ấp. Ngã ư bỉ tiền hiện Tể quan
thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生愛治國土,剖斷邦邑。我於彼
前現宰官身。而為說法令其成就。
If there are living
beings who enjoy governing the country and who can handle matters of state
decisively, I will appear before them in the body of an official and speak
Dharma for them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
chư chúng sanh ái chư số thuật, nhiếp vệ tự cư, ngã ư bỉ tiền hiện Bà-la-môn
thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸眾生愛諸數術攝衛自居。我於彼
前現婆羅門身。而為說法令其成就。
If there are living
beings who like reckoning and incantation and who wish to guard and protect themselves,
I will appear before them in the body of a Brahman and speak Dharma for them,
enabling them to accomplish their wish.
Nhược
hữu nam tử hiếu học xuất gia, trì chư giới luật, ngã ư bỉ tiền hiện tỷ-khưu
thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若有男子好學出家持諸戒律。我於彼
前現比丘身。而為說法令其成就。
If there are men who
want to leave the home-life and uphold the precepts and rules, I will appear
before them in the body of a Bhikshu and speak Dharma for them, enabling them
to accomplish their wish.
Nhược
hữu nữ tử hiếu học xuất gia trì chư cấm giới. ngã ư bỉ tiền hiện tỷ-khưu-ni
thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若有女子好學出家持諸禁戒。我於彼
前現比丘尼身。而為說法令其成就。
If there are women
who would like to leave the home-life and hold the pure precepts, I will appear
before them in the body of a Bhikshuni and speak Dharma for them, enabling them
to accomplish their wish.
Nhược
hữu nam tử nhạo trì ngũ giới, ngã ư bỉ tiền hiện Ưu-bà-tắc thân, nhi vị thuyết
pháp linh kỳ thành tựu. Nhược phục nữ tử ngũ giới tự cư, ngã ư bỉ tiền hiện
Ưu-bà-di thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若有男子樂持五戒。我於彼前現優婆塞
身。而為說法令其成就。若復女子五戒
自居。我於彼前現優婆夷身。而為說法
令其成就。
If there are men who
want to uphold the five precepts, I will appear before them in the body of an
upasaka and speak dharma for them, enabling them to accomplish their wish. If
there are women who wish to base themselves in the five precepts, I will appear
before them in the body of an upasika and speak Dharma for them, enabling them
to accomplish their wish.
Nhược
hữu nữ nhơn nội chánh lập thân, dĩ tu gia quốc, ngã ư bỉ tiền hiện nữ chủ thân,
cập quốc phu nhân mạng phụ đại gia, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若有女人內政立身以修家國。我於彼前
現女主身。及國夫人命婦大家。而為說
法令其成就。
If there are women
who govern internal affairs of household or country, I will appear before them
in the body of a queen, first lady, or noblewoman and speak Dharma for them,
enabling them to accomplish their wish.
Nhược
hữu chúng sanh bất hoại nam căn, ngã ư bỉ tiền hiện đồng nam thân, nhi vị
thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若有眾生不壞男根。我於彼前現童男
身。而為說法令其成就。
If there are virgin
lads I will appear before them in the body of a pure youth and speak Dharma for
them, enabling them to accomplish their wish.
Nhược
hữu xử nữ ái nhạo xử thân, bất cầu xâm bạo, ngã ư bỉ tiền hiện đồng nữ thân,
nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若有處女愛樂處身不求侵暴。我於彼前
現童女身。而為說法令其成就。
If there are maidens
who want to remain virgins and do not wish to marry, I will appear before them
in the body of a gracious lady and speak Dharma for them, enabling them to
accomplish their wish.
Nhược
hữu chư thiên nhạo xuất thiên luân, ngã hiện thiên thân, nhi vị thuyết pháp
linh kỳ thành tựu.
若有諸天樂出天倫。我現天身而為說法
令其成就。
If there are
heavenly beings who wish to escape their heavenly destiny, I will appear in the
body of a god and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their
wish.
Nhược
hữu chư long nhạo xuất long luân, ngã hiện long thân, nhi vị thuyết pháp linh
kỳ thành tựu.
若有諸龍樂出龍倫。我現龍身而為說法
令其成就。
If there are dragons
who want to quit their lot of being dragons, I will appear before them in the
body of a dragon and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their
wish.
Nhược
hữu dược-xoa nhạo độ bổn luân, ngã ư bỉ tiền hiện dược-xoa thân, nhi vị thuyết
pháp linh kỳ thành tựu.
若有藥叉樂度本倫。我於彼前現藥叉
身。而為說法令其成就。
If there are yakshas
who want to get out of their present fate, I will appear before them in the
body of a yaksha and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their
wish.
Nhược
càn-thát-bà nhạo thoát kỳ luân, ngã ư bỉ tiền hiện càn-thát-bà thân, nhi vị
thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若乾闥婆樂脫其倫。我於彼前現乾闥婆
身。而為說法令其成就。
If there are gandharvas
who wish to be freed from their destiny, I will appear before them in the body
of a gandharva and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their
wish.
Nhược
a-tu-la nhạo thoát kỳ luân, ngã ư bỉ tiền hiện a-tu-la thân, nhi vị thuyết pháp
linh kỳ thành tựu.
若阿修羅樂脫其倫。我於彼前現阿修羅
身。而為說法令其成就。
If there are asuras
who wish to be liberated from their destiny, I will appear before them in the
body of an asura and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their
wish.
Nhược
khẩn-đà-la nhạo thoát kỳ luân, ngã ư bỉ tiền hiện khẩn-đà-la thân, nhi vị
thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若緊陀羅樂脫其倫。我於彼前現緊陀羅
身。而為說法令其成就。
If there are
kinnaras who wish to transcend their fate, I will appear before them in the
body of a kinnara and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their
wish.
Nhược
ma-hô-la-già nhạo thoát kỳ luân, ngã ư bỉ tiền hiện ma-hô-la-già thân, nhi vị
thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若摩呼羅伽樂脫其倫。我於彼前現摩呼
羅伽身。而為說法令其成就。
If there are
mahoragas who wish to be freed from their destiny, I will appear before them in
the body of a mahoraga and speak Dharma for them, enabling them to accomplish
their wish.
Nhược
chư chúng sinh nhạo nhân tu nhân, ngã hiện nhân thân, nhi vị thuyết pháp linh
kỳ thành tựu.
若諸眾生樂人修人。我現人身而為說法
令其成就。
If there are living
beings who like being people and want to continue to be people, I will appear
in the body of a person and speak Dharma for them, enabling them to accomplish
their wish.
Nhược
chư phi nhơn, hữu hình vô hình, hữu tưởng vô tưởng nhạo độ kỳ luân, ngã ư bỉ
tiền giai hiện kỳ thân, nhi vị thuyết pháp linh kỳ thành tựu.
若諸非人有形無形。有想無想樂度其
倫。我於彼前皆現其身。而為說法令其
成就。
If there are
non-humans, whether with form or without form, whether with thought or without
thought, who long to be freed from their destiny, I will appear before them in
a body like theirs and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their
wish.
Thị
danh diệu tịnh tam thập nhị ứng, nhập quốc độ thân. Giai dĩ tam muội văn huân
văn tu vô tác diệu lực tự tại thành tựu.
是名妙淨三十二應,入國土身。皆以三昧
聞薰聞修, 無作妙力自在成就 。
This is called the
wonderful purity of the thirty-two response-bodies, by which one enters into
all lands and accomplishes self-mastery by means of the Samadhi of Becoming
Permeated with Hearing and Cultivating Hearing and by means of the miraculous
strength of effortlessness.
Thế
tôn, ngã phục dĩ thử văn huân văn tu kim cang tam muội vô tác diệu lực, dữ chư
thập phương tam thế lục đạo, nhất thiết chúng sanh đồng bi ngưỡng cố, linh chư
chúng sanh ư ngã thân tâm, hoạch thập tứ chủng vô uý công đức.
世尊我復以此聞薰聞修金剛三昧無作妙
力,與諸十方三世六道,一切眾生同悲仰
故,令諸眾生於我身心,獲十四種無畏功
德。
Also, World Honored
One, using this Vajra Samadhi of Becoming Permeated with Hearing and
Cultivating Hearing, and using the miraculous strength of effortlessness,
because I have a kind regard equally for all living beings in the six paths, I
go throughout the ten directions and the three periods of time and cause all
living beings who encounter bodies of mine to receive the meritorious virtue of
fourteen kinds of fearlessness.
Nhất
giả do ngã bất tự quán âm, dĩ quán quán giả, linh bỉ thập phương khổ não chúng
sanh, quán kỳ âm thinh tức đắc giải thoát.
一者由我不自觀音,以觀觀者, 令彼十方
苦惱眾生。觀其音聲即得解脫。
First: because I do
not contemplate sounds for my own sake, but rather listen to the sounds of
those whom I contemplate, I can enable living beings throughout the ten
directions who are suffering and in distress to attain liberation by
contemplating their sounds.
Nhị
giả tri kiến triền phục, linh chư chúng sanh thiết nhập đại hoả, hoả bất năng
thiêu.
二者知見旋復,令諸眾生設入大火火不能
燒。
Second: since my
knowledge and views have turned around and come back, I can make it so that if
living beings are caught in a raging fire, the fire will not burn them.
Tam
giả quán thính triền phục, linh chư chúng sanh đại thuỷ sở phiêu, thuỷ bất năng
nịch.
三者觀聽旋復。令諸眾生大水所漂,水不
能溺。
Third: since
contemplation and listening have turned around and come back, I can make it so
that if living beings are floundering in deep water, the water cannot drown
them.
Tứ
giả đoạn diệt vọng tưởng, tâm vô sát hại, linh chư chúng sanh nhập chư quỷ
quốc, quỷ bất năng hại.
四者斷滅妄想,心無殺害。令諸眾生入諸
鬼國鬼不能害。
Fourth: since false
thinking is cut off, and my mind is without thoughts of killing or harming, I
can make it so that if living beings enter the territory of ghosts, the ghosts
cannot harm them.
Ngũ
giả huân văn thành văn. Lục căn tiêu phục đồng ư thanh thính. Năng linh chúng
sanh lâm đương bị hại đao đoạn đoạn hoại. Sử kỳ binh qua du như cát thuỷ, diệc
như xuy quang tánh vô dao động.
五者薰聞成聞。六根銷復同於聲聽。能
令眾生臨當被害刀段段壞。使其兵戈猶
如割水,亦如吹光性無搖動。
Fifth: since I am
permeated with hearing and have brought hearing to accomplishment, so that the
six sense-organs have dissolved and returned to become identical with hearing,
I can make it so that if living beings are about to be wounded, the knives will
break into pieces. I can cause swords of war to have no more effect than if
they were to slice into water, or if one were to blow upon light.
Lục
giả văn huân tinh minh minh biến pháp giới, tắc chư u ám tánh bất năng toàn.
Năng linh chúng sanh dược-xoa, la-sát, cưu-bàn-trà quỷ, cập tỳ-xá-già, phú-
đan-na đẳng, tuy cận kỳ bàng, mục bất năng thị.
六者聞薰精明明遍法界, 則諸幽暗性不
能全。能令眾生藥叉羅剎鳩槃茶鬼,及毘
舍遮富單那等,雖近其傍目不能視。
Sixth: when the
hearing permeates and the essence is bright, light pervades the Dharma-realm,
so that absolutely no darkness remains. I am then able to make it so that,
though yakshas, rakshasas, kumbhandas, pishachas, and putanas may draw near to
living beings, the ghosts will not be able to see them.
Thất
giả âm tánh viên tiêu, quán thính phản nhập, ly chư trần vọng. Năng linh chúng
sanh cấm hệ già toả sở bất năng trước.
七者音性圓銷。觀聽返入離諸塵妄。能
令眾生禁繫枷鎖所不能著。
Seventh: when the
nature of sound completely melts away and contemplation and hearing return and
enter, so that I am separate from false and defiling sense-objects, I am able
to make it so that if living beings are confined by cangues and fetters, the
locks will not hold them.
Bát
giả diệt âm viên văn, biến sanh từ lực, năng linh chúng sanh kinh quá hiểm lộ,
tặc bất năng kiếp.
八者滅音圓聞,遍生慈力。能令眾生經過
嶮路,賊不能劫。
Eighth: when sound
is gone and the hearing is perfected, an all-pervasive power of compassion
arises, and I can make it so that if living beings are travelling a dangerous
road, thieves will not rob them.
Cửu
giả huân văn ly trần, sắc sở bất kiếp, năng linh nhất thiết đa dâm chúng sanh
viễn ly tham dục.
九者薰聞離塵,色所不劫。能令一切多婬
眾生遠離貪欲。
Ninth: when one is
permeated with hearing, one separates from worldly objects, and forms cannot
rob one. Then I can make it so that living beings with a great deal of desire
can leave greed and desire far behind.
Thập
giả thuần âm vô trần, căn cảnh viên dung, vô đối sở đối, năng linh nhất thiết
phẫn hận chúng sanh ly chư sân khuể.
十者純音無塵,根境圓融,無對所對,能令
一切忿恨眾生離諸嗔恚。
Tenth: when sound is
so pure that there is no defiling object, the sense-organ and the external
state are perfectly fused, without any complement and without anything
complemented. Then I can make it so that living beings who are full of rage and
hate will leave all hatred.
Thập
nhất giả, tiêu trần triền minh pháp giới thân tâm. Du như lưu li, lãng triệt vô
ngại. Năng linh nhất thiết hôn độn tánh chướng, chư a-điên-ca vĩnh ly si ám.
十一者,銷塵旋明法界身心。猶如瑠璃,
朗徹無礙。能令一切昏鈍性障,諸阿顛迦
永離癡暗。
Eleventh: when the
dust has gone and has turned to light, the Dharma realm and the body and mind
are like crystal, transparent and unobstructed. Then I can make it so that all
dark and dullwitted beings whose natures are obstructed - all atyantikas - are
forever free from stupidity and darkness.
Thập
nhị giả, dung hình phục văn, bất động đạo tràng thiệp nhập thế gian, bất hoại
thế giới. Năng biến thập phương. Cúng dường vi trần chư Phật Như Lai, các các
Phật biên vi pháp vương tử. Năng linh pháp giới vô tử chúng sanh. Dục cầu nam
giả, đản sanh phước đức trí huệ chi nam.
十二者融形復聞,不動道場涉入世間,不
壞世界能遍十方。供養微塵諸佛如來,各
各佛邊為法王子。能令法界無子眾生。
欲求男者,誕生福德智慧之男。
Twelfth: when matter
dissipates and returns to the hearing, then unmoving in the Bodhimanda I can
travel through worlds without destroying the appearance of those worlds. I can
make offerings to as many Buddhas, Thus Come Ones, as there are fine motes of
dust throughout the ten directions. At the side of each Buddha I become a
Dharma Prince, and I can make it so that childless living beings throughout the
Dharma Realm who wish to have sons, are blessed with meritorious, virtuous, and
wise sons.
Thập
tam giả lục căn viên thông, minh chiếu vô nhị, hàm thập phương giới. Lập đại
viên kính không Như Lai tạng. Thừa thuận thập phương vi trần Như Lai. Bí mật
pháp môn thọ lĩnh vô thất. Năng linh pháp giới vô tử chúng sanh, dục cầu nữ
giả, đản sanh đoan chánh phước đức nhu thuận, chúng nhân ái kính hữu tướng chi
nữ.
十三者六根圓通,明照無二含十方界。立
大圓鏡空如來藏。承順十方微塵如來。
祕密法門受領無失。能令法界無子眾生,
欲求女者,誕生端正福德柔順,眾人愛敬
有相之女。
Thirteenth: with
perfect penetration of the six sense-organs, the light and what is illumined
are not two. Encompassing the ten directions, a great perfect mirror stands in
the Empty Treasury of the Thus Come One. I inherit the secret dharma-doors of
as many Thus Come Ones as there are fine motes of dust throughout the ten
directions. Receiving them without loss, I am able to make it so that childless
living beings throughout the Dharma Realm who seek daughters are blessed with
lovely daughters who are upright, virtuous, and compliant and whom everyone
cherishes and respects.
Thập
tứ giả, thử tam thiên, đại thiên thế giới, bá ức nhật nguyệt. Hiện trụ thế gian
chư pháp vương tử, hữu lục thập nhị hằng hà sa số, tu pháp thuỳ phạm, giáo hóa
chúng sanh, tuỳ thuận chúng sanh. Phương tiện trí huệ các các bất đồng.
十四者此三千大千世界百億日月。現住世間諸法王子。有六十二恒河沙數修法垂範。教化眾生隨順眾生。方便智慧各各不同。
Fourteenth: in this
three-thousand-great-thousand world system with its billions of suns and moons,
as many Dharma Princes as there are grains of sand in sixty-two Ganges Rivers
appear in the world and cultivate the dharma. They act as models in order to
teach and transform living beings. They comply with living beings by means of
expedients and wisdom, in different ways for each.
Do
ngã sở đắc viên thông, bổn căn phát diệu nhĩ môn. Nhiên hậu thân tâm vi diệu
hàm dung biến chu pháp giới. Năng linh chúng sanh trì ngã danh hiệu, dữ bỉ cộng
trì lục thập nhị hằng hà sa chư Pháp vương tử. Nhị nhơn phước đức chánh đẳng vô
dị.
由我所得圓通本根發妙耳門。然後身心微妙含容遍周法界。能令眾生持我名號。與彼共持六十二恒河沙諸法王子。二人福德正等無異。
However, because I
have obtained the perfect penetration of the sense-organ and have discovered
the wonder of the ear-entrance, after which my body and mind subtly and
miraculously included all of the Dharma Realm, I am able to make it so that
living beings who uphold my name obtain as much merit and virtue as would be
obtained by a person who upheld the names of all those Dharma Princes who are
as many as the grains of sand in sixty-two Ganges Rivers.
Thế
tôn, ngã nhất hiệu danh dữ bỉ chúng đa danh hiệu vô dị, do ngã tu tập đắc chơn
viên thông.
世尊我一號名與彼眾多名號無異,由我修習得真圓通。
World Honored One,
there is no difference between the merit of my one name and the merit of those
many other names, because from my cultivation I obtained true and perfect penetration.
Thị
danh thập tứ thí vô uý lực, phước bị chúng sanh.
是名十四施無畏力,福備眾生.
These are called the
fourteen powers of bestowing fearlessness; with them I bless living beings.
Thế
tôn, Ngã hựu hoạch thị viên thông tu chứng vô thượng đạo cố, hựu năng thiện
hoạch tứ bất tư nghì vô tác diệu đức.
世尊我又獲是圓通修證無上道故,又能善獲四不思議無作妙德。
Moreover, World
Honored One, because I obtained perfect penetration and cultivated to
certification of the unsurpassed path, I also became endowed with four
inconceivable and effortless wonderful virtues.
Nhất
giả do ngã sơ hoạch diệu diệu văn tâm, tâm tinh di văn. Kiến văn giác tri bất
năng phân cách, thành nhất viên dung thanh tịnh bảo giác. Cố ngã năng hiện
chúng đa diệu dung. Năng thuyết vô biên bí mật thần chú.
一者由我初獲妙妙聞心,心精遺聞。見聞覺知不能分隔,成一圓融清淨寶覺。故我能現眾多妙容。能說無邊祕密神呪。
First: as soon as I obtained the miraculous wonder of hearing the mind, the mind became essential and the hearing was forgotten, therefore, there was no distinction between seeing, hearing, sensation, and knowing. I achieved a single, perfect fusion - pure and precious enlightenment. For this reason, I am able to manifest many wonderful appearances and can proclaim boundless secret spiritual mantras.
Kỳ
trung hoặc hiện nhất thủ tam thủ. Ngũ thủ thất thủ cửu thủ thập nhất thủ. Như
thị nãi chí nhất bá bát thủ. Thiên thủ vạn thủ bát vạn tứ thiên thước-ca-la
thủ.
其中或現一首三首。五首七首九首十一首。如是乃至一百八首。千首萬首八萬四千爍迦囉首。
For example, I may make
appear one head, three heads, five heads, seven heads, nine heads, eleven
heads, and so forth, until there may be a hundred and eight heads, a thousand
heads, ten thousand heads, or eighty-four thousand vajra heads;
Nhị
tý tứ tý lục tý bát tý. Thập tý thập nhị tý thập tứ thập lục. Thập bát nhị thập
chí nhị thập tứ. Như thị nãi chí nhất bá bát tý thiên tý vạn tý. Bát vạn tứ
thiên mẫu- đà-la tý.
二臂四臂六臂八臂。十臂十二臂十四十六。十八二十至二十四。如是乃至一百八臂千臂萬臂。
Two arms, four arms,
six arms, eight arms, ten arms, twelve arms, fourteen, sixteen, eighteen arms,
or twenty arms, twenty-four arms, and so forth until there may be a hundred and
eight arms, a thousand arms, ten thousand arms, or eighty-four thousand mudra
arms;
Nhị
mục tam mục tứ mục cửu mục. Như thị nãi chí nhất bá bát mục thiên mục vạn mục.
Bát vạn tứ thiên thanh tịnh bảo mục. Hoặc từ hoặc oai hoặc định hoặc huệ. Cứu
hộ chúng sanh đắc đại tự tại.
二目三目四目九目。如是乃至一百八目千目萬目。八萬四千清淨寶目。或慈或威或定或慧。救護眾生得大自在。
Two eyes, three
eyes, four eyes, nine eyes, and so forth until there may be a hundred and eight
eyes, a thousand eyes, ten thousand eyes, or eighty-four thousand pure and
precious eyes, sometimes compassionate, sometimes awesome, sometimes in
samadhi, sometimes displaying wisdom to rescue and protect living beings so
that they may attain great self-mastery.
Nhị
giả do ngã văn tư thóat xuất lục trần. Như thinh độ viên bất năng vi ngại. Cố
ngã diệu năng hiện nhất nhất hình, tụng nhất nhất chú. Kỳ hình kỳ chú năng dĩ
vô uý thí chư chúng sanh. Thị cố thập phương vi trần quốc độ. Giai danh ngã vi
thí vô uý giả.
二者由我聞思脫出六塵。如聲度垣不能為礙。故我妙能現一一形。誦一一呪。其形其呪。能以無畏施諸眾生。是故十方微塵國土。皆名我為施無畏者。
Second: because of
hearing and consideration, I escaped the six defiling objects, just as a sound
leaps over a wall without hindrance. And so I have the wonderful ability to
manifest shape after shape and to recite mantra upon mantra. These shapes and
these mantras dispel the fears of living beings. Therefore, throughout the ten
directions, in as many lands as there are fine motes of dust, I am known as one
who bestows fearlessness.
Tam
giả do ngã tu tập bổn diệu viên thông thanh tịnh bổn căn, sở du thế giới, giai
linh chúng sanh, xả thân trân bảo cầu ngã ai mẫn.
三者由我修習本妙圓通清淨本根,所遊世界,皆令眾生,捨身珍寶求我哀愍。
Third: because I
cultivated fundamental, wonderful, perfect penetration and purified the
sense-organ, everywhere I go in any world I can make it so that living beings
renounce their physical and material valuables to seek my sympathy.
Tứ
giả ngã đắc Phật tâm, chứng ư cứu cánh. Năng dĩ trân bảo chủng chủng cúng dường
thập phương Như Lai, bàng cập pháp giới lục đạo chúng sanh.
四者我得佛心證於究竟。能以珍寶種種供養十方如來, 傍及法界六道眾生。
Fourth: I obtained
the Buddhas’ mind and was certified as having attained the ultimate end, and so
I can make offerings of rare treasures to the Thus Come Ones of the ten
directions and to living beings in the six paths throughout the Dharma Realm.
Cầu
thê đắc thê cầu tử đắc tử, cầu tam-muội đắc tam-muội. Cầu trường thọ đắc trường
thọ. Như thị nãi chí cầu đại niết-bàn đắc đại niết-bàn.
求妻得妻求子得子。求三昧得三昧。求長壽得長壽。如是乃至求大涅槃得大涅槃。
If they seek a
spouse, they obtain a spouse. If they seek children, they can have children.
Seeking samadhi, they obtain samadhi; seeking long life, they obtain long life,
and so forth to the extent that if they seek the great Nirvana, they obtain
great Nirvana.
Phật
vấn viên thông, ngã tòng nhĩ môn viên chiếu tam muội, duyên tâm tự tại. Nhân
nhập lưu tướng, đắc tam-ma-đề, thành tựu bồ-đề. Tư vi đệ nhất.
佛問圓通,我從耳門圓照三昧, 緣心自在。因入流相,得三摩 提,成就菩提。斯為第一。
The Buddha asks about perfect penetration. From the gateway of the ear, I obtained a perfect and illumining samadhi. The conditioned mind was at ease, and therefore I entered the appearance of the flow, and obtaining samadhi, I accomplished Bodhi. This is the foremost method.
Thế
tôn bỉ Phật Như Lai thán ngã thiện đắc viên thông pháp môn. Ư đại hội trung thọ
ký ngã vi Quán thế âm hiệu.
世尊彼佛如來。歎我善得圓通法門。於大會中授記我為觀世音號。
World Honored One,
that Buddha, the Thus Come One, praised me as having obtained well the
dharma-door of perfect penetration. In the great assembly he bestowed a
prediction upon me and the name, Guan Shi Yin.
Do
ngã quán thính thập phương viên minh, cố quán âm danh biến thập phương giới.
由我觀聽十方圓明,故觀音名遍十方界.
Because my
contemplation and listening is perfectly clear throughout the ten directions,
the name Guan Shi Yin pervades all the realms of the ten directions.”
Nhĩ
thời Thế tôn ư sư tử toà, tòng kỳ ngũ thể đồng phóng bảo quang, viễn quán thập
phương vi trần Như Lai, cập Pháp vương tử chư Bồ-tát đỉnh.
爾時世尊於師子座,從其五體同放寶光,遠灌十方微塵如來,及法王子諸菩薩頂.
Then the World Honored One upon the Lion’s Throne emitted simultaneously
from his five extremities a precious light which shone far throughout the ten
directions to anoint the crowns of as many Thus Come Ones and Dharma-Prince
Bodhisattvas as there are motes of dust.
Bỉ
chư Như Lai diệc ư ngũ thể đồng phóng bảo quang, tòng vi trần phương lai quán
Phật đỉnh. Tinh quán hội trung chư đại Bồ-tát cập A-la-hán.
彼諸如來亦於五體同放寶光。從微塵方來灌佛頂。并灌會中諸大菩薩及阿羅漢。
All those Thus Come Ones also emitted from their five
extremities precious lights which were as numerous as motes of dust and which
came from the various directions to anoint the crown of the Buddha as well as
the crowns of all the great Bodhisattvas and Arhats in the assembly.
Lâm
mộc trì chiểu giai diễn pháp âm. Giao quang tương la như bảo ty võng. Thị chư
đại chúng đắc vị tằng hữu. Nhất thiết phổ hoạch kim cang tam-muội.
林木池沼皆演法音。交光相羅如寶絲網。是諸大眾得未曾有。一切普獲金剛三昧。
Groves, trees, pools, and ponds all proclaimed the sound
of Dharma. The lights blended and criss-crossed like a jeweled silken net. It
was an unprecedented event for everyone in the great assembly, and they all
attained the Vajra Samadhi.
Tức
thời thiên vũ bá bảo liên hoa, thanh hoàng xích bạch gián thố phân nhữu. Thập
phương hư không thành thất bảo sắc.
即時天雨百寶蓮華,青黃赤白間錯紛糅。十方虛空成七寶色。
Then the heavens rained down hundreds of precious lotus
flowers of variegated combinations of green, yellow, red, and white. All the
space in the ten directions turned the colors of the seven gems.
Thử
ta-bà giới đại địa sơn hà câu thời bất hiện. Duy kiến thập phương vi trần quốc
độ hợp thành nhất giới. Phạm bái vịnh ca tự nhiên sổ tấu.
此娑婆界大地山河俱時不現。唯見十方微塵國土合成一界。梵唄詠歌自然數奏
This Saha world with its mountains, rivers, and great
earth disappeared totally, and all that could be seen were lands as numerous as
motes of dust coming together as one realm. Pure praises in songs and chants
spontaneously pervaded in celebration.
CHUNG
NHĨ CĂN
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
THE EAR ORGAN
GWAN SHI YIN BODHISATTVA
KINH NIỆM PHẬT
BA-LA-MẬT
Đời Tấn, ngài
Tam-tạng Pháp-sư Cưu-Ma-La-Thập dịch từ Phạn ra Hán.
Hòa-Thuợng Thích-Thiền-Tâm dịch từ Hán-văn ra Việt-văn.
PHẨM THỨ NĂM
QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT NIỆM PHẬT VIÊN
THÔNG
Lúc bấy giờ, Quốc mẫu Vi-Đề-Hy
hoàng thái hậu hớn hở vui mừng được nghe
pháp yếu của Như-Lai qua
lời dạy của ngài
Phổ-Hiền Đại Bồ-Tát,
bèn tiếp tục thưa thỉnh:
- "Kính bạch đấng Thiên
Nhân Sư tối tôn, tối thắng !
Kính bạch Đại-sĩ đại từ, đại bi !
Con cũng thường nghe
chư vị trưởng lão
trong tăng già luôn luôn nhắc nhở rằng chỉ
có Tứ-niệm-xứ là
con đường độc nhất giúp
chúng sanh diệt trừ ưu bi khổ não, chứng ngộ Niết-bàn.
Nay được Thế-Tôn mở
bày pháp Niệm Phật, khiến hằng ưu-bà-tắc, và ưu-bà-di đều phân vân, do dự. Ý nghĩa ấy như thế nào ? Đâu mới là pháp chân thật, rốt ráo ? Đâu là pháp phương tiện, quyền biến ? Đâu
là pháp tối hậu mà Như-Lai thường ban
cho các chúng sanh ở vào thời kỳ
Chánh pháp cuối cùng
?"Đức Phật mỉm cười lặng yên.
Ngài Phổ-Hiền an
nhiên nhập vào Niệm Phật Tam-muội. Thân
tâm bất động.
Khi ấy,
ngài Quán-Thế-Âm Đại Bồ-Tát liền từ bảo tòa đứng dậy, trịch áo phơi bày vai bên hữu, cung kính nhiễu quanh đức Phật ba vòng. Rồi Ngài hướng về bà Vi-Đề-Hy mà bảo rằng:
- "Nay tôi nương uy thần vô hạn của đức
Thích-Ca Mâu-Ni Thế-Tôn, và
tùy thuận Bản-nguyện-lực vô
biên vô lượng của đức Phật
A-Di-Đà, mà tuyên dương năng
lực vô
cùng tận của danh
hiệu Phật, tức là
Pháp Môn Niệm Phật Tam Muội.
- Nầy Vi-Đề-Hy, hãy
nhận rõ như thế nầy, đừng rơi vào
nghi lầm nữa.
Đúng như ngươi vừa mới trình bày, Tứ-niệm-xứ là pháp diệt khổ, là pháp đối trị tham dục, ưu bi khổ não, là pháp đắc Niết-bàn vắng lặng. Còn pháp Niệm Phật Tam-muội lại là pháp thành Phật, là
pháp chứng Vô-thượng-giác,
là pháp thâm nhập cảnh giới bất tư nghị của chư Phật, là
pháp mở bày tỏ ngộ Tri Kiến Như-Lai, là
pháp cứu độ tất cả mọi chúng
sanh, là pháp siêu việt trên hết thảy hí luận cùng
thiên kiến của nhị thừa. Tại sao vậy ?
Trước đây, đức Thế-Tôn vì
những người ghê sợ hiểm nạn sanh tử, mà nói
pháp Tứ-niệm-xứ, chánh
niệm tinh tấn nhiếp phục tham
sân si, để thoát
khổ và đắc
A-la-hán.
Nay vì những người tín ngưỡng, khát khao quả vị Bồ-đề chí hướng mong cầu Phật đạo, phát khởi đại bi tâm mà thực hành hạnh nguyện Bồ-Tát thì đức Thế-Tôn chỉ dạy pháp môn Niệm Phật Tam-muội.
Nầy Vi-Đề-Hy, tất cả chúng
sanh từ vô thỉ đến nay,
vì một niệm bất giác nổi lên,
che mờ Bản-thể Thường-trụ, nhận vật bên
ngoài làm TÂM. Luôn
luôn bỏ mất TÂM
chân thật, nên bị cảnh vật xoay
chuyển. Do đó
khởi tâm
phân biệt, thấy có lớn nhỏ, rộng hẹp, cao hạ... Nếu xoay được cảnh vật bên
ngoài thì thân tâm sẽ sáng suốt, trạm nhiên,
trọn đầy, tức thời đồng với Như-Lai
không khác.
Muốn xoay
chuyển ngoại vật, thì
không chi bằng sử dụng diệu lực vô úy
của danh
hiệu Phật. Thật vậy, nhờ xưng niệm Nam-mô
A-Di-Đà Phật mà
hành giả nhìn thấy cảnh vật bên
ngoài đúng như bản chất thật sự của chúng.
Do đó không còn bị ngoại cảnh chi
phối, điều phục thân
tâm. Và chẳng còn mống khởi tâm
phân biệt. Lúc ấy, tuy
không rời pháp hội mà biến hiện khắp mười phương quốc độ; trong
một lỗ chân
lông vẫn chứa đựng cả Hoa-tạng Thế-giới-hải.
Khi xưng niệm danh hiệu Phật, hành giả không để tâm dong ruổi theo thanh trần, mà xoay cái nghe trở vào Chơn-tánh,
đó là danh hiệu Phật đang
tuôn chảy liên
miên bất tận thành
một dòng
Tâm, mà mỗi mỗi sát-na
đều hiển hiện Chơn-như-tánh.
Chính nó thật là
Tánh Nghe của
mình, chẳng còn
hai tướng động và tịnh, toàn là thể vắng lặng, soi chiếu khắp mười phương.
Tiếp tục hành
trì niệm Phật như thế, chẳng bao
lâu thì Tánh Nghe cũng không còn. Khi ấy, Phật Trí tự nhiên tỏa rạng, danh
hiệu Phật vẫn tương tục, không gián đoạn.
Nầy Vi-Đề-Hy, trong pháp hội Thủ-Lăng-Nghiêm, tôi đã trình bày nhân địa tu
hành Nhĩ Căn Viên Thông cho đại chúng. Nhưng, thời Mạt pháp các kinh điển dần dần ẩn mất, mà
nên biết
kinh Thủ-Lăng-Nghiêm,
sẽ bị diệt trước nhất, tiếp sau là kinh Lăng-Già, kinh Kim-Cương, kinh
Ma-Ha Bát-Nhã, kinh Diệu-Pháp
Liên-Hoa ... Nếu không
nương nhờ pháp niệm Phật thì rất khó chứng đắc Nhĩ
Căn Viên Thông. Bởi vì sao
? Bởi vì Niệm Phật Tam-muội chính
là món Viên-thông đệ nhất.
Nầy Vi-Đề-Hy, tất cả chúng
sanh từ vô thỉ đến nay,
vì lăn lộn trong
đêm tối vô
minh, nhận giặc làm
cha, lấy vọng kiến làm chỗn nương về, lấy tà kiến làm bạn lữ, lấy biên
kiến làm lương dược. Nhận ngã chấp, ngã
kiến làm
Tâm. Rời xa Tri-kiến Giải-thoát Vô-thượng. Do đó, khởi tâm
phân biệt, thấy đúng
sai, tà chánh, thiện ác,
chân ngụy ... nếu lọc sạch ngã
kiến, ngã
chấp thì
thân tâm sẽ quang
minh, thường tại, chiếu suốt mười phương pháp
giới. Tức đồng đẳng với Tri Kiến giác
ngộ của chư Như-Lai.
Nếu muốn gạn lọc ngã kiến, ngã
chấp, thì
không chi hơn là
phát huy năng lực vô
biên của danh
hiệu Phật. Thật vậy, nhờ chuyên
tâm xưng niệm Nam-mô
A-Di-Đà Phật mà
hành giả tuần tự chuyển Thức thành
Trí. Ngã chấp tự nhiên rơi rụng, ngã kiến tự nhiên tan mất như bong bóng nước dưới ánh mặt trời. Lúc bấy giờ, tuy không lìa cung Đâu-Suất mà vẫn phân
thân khắp vi trần quốc độ để chuyển pháp
luân vô thượng, và
khai thị tuệ giác
cho vô lượng chúng
sanh, giúp hết thảy tứ sanh, cửu hữu cùng
ngộ nhập Phật Tri Kiến.
Khi xưng niệm danh
hiệu Phật, hành
giả không để Thức nương theo
nhân duyên mà dấy động, nên
chẳng thành
tựu pháp
Y-tha-khởi. Vì
không có sự tham dự của ngã và
ngã sở nên Biến-kế Sở-chấp cũng
chẳng tồn tại. Chỉ có danh
hiệu Phật vẫn tuôn
chảy liên
miên bất tận thành
một dòng
tâm, mà mỗi mỗi sát-na
đều biểu hiện Vô-thượng Diệu-viên
Thức-tâm
Tam-Muội, tức là Chân Duy Thức Tánh.
Tiếp tục hành trì niệm Phật như thế chẳng bao lâu, thì chẳng còn
nhìn thấy huyễn tướng của vạn pháp ở bên
ngoài và cũng chẳng còn bắt gặp Tám thức ở bên
trong. Trong hay ngoài đều giả dối, không
thật. Ngay
cả tướng
Duy-thức cũng
chẳng có nữa. Vì ba
đời mười phương Như-Lai, vi
trần sát quốc độ, hư không,
sắc pháp,
tâm vương, tâm
sở... đều không
một thứ nào ra
ngoài Chân Duy Thức Tánh
mà tự hữu, tự sanh, tự diệt, danh
hiệu Phật vẫn tương tục, không
gián đoạn, như có, như không,
cho đến khi
Chân Duy Thức biến mất, Đại Viên Cảnh Trí tự nhiên
phơi bày,
danh hiệu Phật sẽ dẫn dắt hành
giả đi vào
tánh Viên Thành Thật, chứng
Vô-sanh Pháp-Nhẫn.
Do đó, phải nói rằng Niệm Phật là pháp môn đệ nhất dùng để chuyển thức thành
trí, mà chúng sanh thời Mạt pháp
phải siêng
năng thọ trì.
Nầy Vi-Đề-Hy, tất cả chúng
sanh từ vô thỉ đến nay, bị vô số tư tưởng điên
đảo làm
khuất lấp tánh
Viên-giác. Như kẻ ngủ mê chợt thức giấc giữa ngã tư đường cái,
chẳng rõ phương hướng, lẫn lộn chánh
tà, thấy cong
nhìn ngược, bất phân
thiện ác. Tư tưởng điên
đảo ấy nẩy sanh
thân và tâm, rồi nhận thân tứ đại giả hợp làm
thân, chấp cái tư tưởng vô
minh điên đảo kia
làm tâm. Cứ thế mà sanh
tử, tử sanh nối nhau
không dứt, tạo vòng lẩn quẩn luân hồi.
Nhưng cái
vô minh điên đảo ấy cũng
chẳng thật. Như hoa đốm, như bóng nước, như ảo tưởng nơi sa mạc, như người ngủ chiêm
bao, thấy những sự việc, cảnh vật rõ
ràng, nhưng khi
thức dậy, thời không
còn gì hết. Nếu chuyển hóa vô
minh điên đảo thời thân
và tâm sẽ thành
Giác-ngộ. Hoặc không
phát tâm tu trì thời vẫn ở mãi
trong sanh tử huyễn mộng ấy mà tự vui. Chỉ có danh
hiệu Phật là đầy đủ năng lực nhiệm mầu để chuyển hóa
sanh tử trở nên Niết-bàn,
chuyển hóa giả huyễn trở nên
chân thật.
Vì sao vậy ?
Khi xưng niệm Nam-mô
A-Di-Đà Phật, hành
giả dần dần thành
tựu chánh
định Như-Lai, tự nhiên phát sanh Tuệ-giác
Không-tánh, vì danh hiệu Phật là Hư-không-tạng, là
Viên-giác-tánh, là Vô-cấu-tạng, là Tịch-tịnh-tạng... Nhờ vậy, hành
giả biết các
pháp đều như huyễn, thời tự nhiên
lìa xa các huyễn hóa,
sanh diệt. Ngay
lúc ấy, bèn
thâm nhập
Viên-giác-tánh. Đó gọi là tri huyễn tức ly, ly
huyễn tức giác.
Dùng pháp nào để Tri ? Nếu không phải là diệu dụng của danh hiệu Phật ?
Không cần phải hủy diệt các thứ huyễn, mới cho chúng nó là huyễn. Không
cần thay đổi bản chất huyễn của nó mới gọi là
Không. Mà chính cái biết "nhứt thiết pháp
là Không" khiến đương thể của huyễn pháp tức là
Không.
Tiếp tục xưng niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật như thế, hành
giả không
phóng tâm theo huyễn cảnh, huyễn sự, mà hướng cái
biết trở vào
Viên-giác-tánh. Đó là danh hiệu Phật đang
tuôn chảy liên
miên bất tận thành
một khối lưu ly
sáng rực, vằng vặc. Mà mỗi mỗi sát-na
đều hiển lộ Như-Lai Tạng, và
cái biết cũng
không còn nữa. Danh
hiệu Phật vẫn tương tục không
gián đoạn, hòa
tan căn, trần, thức đều nhập vào
Viên-giác-tánh, bình đẳng bất động, thường trụ như hư không
và tròn đầy chiếu suốt mười phương.
Bởi vậy, phải nói rằng niệm Phật là
pháp môn đệ nhất, sử dụng danh
hiệu Như-Lai mà
thâm nhập Như-Lai-Tạng, mà chuyển biến huyễn hóa, hư dối trở nên
Viên-giác-tánh. Các hạng chúng
sanh thời Mạt pháp
phải siêng
năng thọ trì.
Nầy Vi-Đề-Hy, tất cả chúng
sanh từ vô thỉ đến nay, bị phiền não
chi phối ngày
đêm không tạm dừng, nên
nhận vọng tưởng làm
Tâm, bỏ quên Thắng-giải-trí,
Vô-thượng-trí.
Rồi lại bị tham,
sân, si, mạn, nghi
lôi cuốn, và
thân kiến, biên
kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến chồng chất lấp vùi.
Do đó khởi tâm
phân biệt, thấy có mừng có giận, yêu
ghét, vui buồn, vinh
hoa, hủy nhục... nếu tận trừ phiền não
thì thân tâm vắng lặng, an
nhiên, tự tại, tức đồng với chư Phật không
hai không khác.
Muốn tận trừ phiền não,
thì không chi hơn là
phát huy năng lực Trí giả siêu việt của danh
hiệu Nam-mô
A-Di-Đà Phật. Thật vậy nhờ cần mẫn xưng niệm Phật hiệu mà
hành giả hiện bày Tự Tâm
Quang Minh Hiện Lượng, chuyển phiền não dữ dội ấy trở thành Bồ-đề thật tướng, đưa hành
giả thẳng vào cảnh giới Thánh
Tri Tự Chứng. Lúc bấy giờ, có khả năng bấm ngón chân xuống mặt đất, sử dụng ấn Địa Xúc để cải biến Ta-bà thành Tịnh-độ trang nghiêm, niệm niệm tương ứng với Thập-địa Bồ-Tát, niệm niệm du hành, giáo hóa xã hội chúng
sanh khắp mười phương vi trần bằng hà sa
thế giới.
CHUNG
KINH NIỆM PHẬT
BA-LA-MẬT

Comments
Post a Comment