Đời Đường, Sa môn Dà Phạm Đạt Mạ (1)
người xứ Tây Thiên Trúc dịch
THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN
THẾ ÂM BỒ TÁT
QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI
ĐẠI BI TÂM ÐÀ RA NI KINH
千手千眼觀世音菩薩
廣大圓滿無礙大悲心
陀羅尼經
THE SUTRA OF
THE VAST, GREAT, PERFECT, FULL, UNIMPEDED GREAT COMPASSION HEART DHARANI OF THE
THOUSAND-HANDED, THOUSAND-EYED BODHISATTVA WHO REGARDS THE WORLD’S SOUNDS
NHƯ THỊ NGÃ VĂN: NHẤT THỜI, THÍCH CA MÂU NI PHẬT TẠI PHỔ ÐÀ LẠC
GIÀ SƠN. QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT CUNG ÐIỆN, BẢO TRANG NGHIÊM ÐẠO TRÀNG TRUNG,
如是我聞。一時釋迦牟尼佛。在補陀落迦山觀世音宮殿寶莊嚴道場中。
Thus have I heard. At one time Shakyamuni Buddha dwelt in the jewel-adorned way field in the palace of the One Who Regards the World’s Sounds, on Potala mountain.
Như thế tôi nghe, một thời đức Phật Thích Ca Mâu Ni (2) ngự nơi đạo tràng Bảo Trang Nghiêm, trong cung điện của Quán Thế Âm Bồ Tát ở tại non Bổ Đà Lạc Ca (3),
TỌA BẢO SƯ TỬ TÒA. KỲ TÒA THUẦN DĨ VÔ LƯỢNG TẠP MA NI, BẢO NHI DỤNG
TRANG NGHIÊM, BÁCH BẢO TRÀNG PHAN CHÂU TRÁP HUYỀN.
坐寶師子座。其座純以無量雜摩尼寶而用莊嚴百寶幢旛周匝懸列。
The jeweled lion
throne upon which he sat was adorned in purity with limitless varicolored
mani-jewels, and a hundred jeweled banners hung suspended around it.
đức Phật ngồi nơi tòa sư tử, tòa này trang nghiêm thuần bằng vô lượng ngọc báu tạp ma ni (4), xung quanh treo nhiều tràng phan bá bảo.
NHĨ THỜI NHƯ LAI Ư BỈ TÒA THƯỢNG, TƯƠNG DỤC DIỄN THUYẾT TỔNG TRÌ
ÐÀ-LA-NI CỐ, DỮ VÔ ƯƠNG SỐ BỒ TÁT MA-HA-TÁT CÂU, KỲ DANH VIẾT: 1) TỔNG TRÌ VƯƠNG
BỒ TÁT, 2) BẢO VƯƠNG BỒ TÁT, 3) DƯỢC VƯƠNG BỒ TÁT, 4) DƯỢC THƯỢNG BỒ TÁT, 5)
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, 6) ÐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT, 7) HOA NGHIÊM BỒ TÁT, 8) ÐẠI TRANG
NGHIÊM BỒ TÁT, 9) BẢO TẠNG BỒ TÁT, 10) ÐỨC TẠNG BỒ TÁT, 11) KIM CANG TẠNG BỒ
TÁT, 12) HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT, 13) DI LẶC BỒ TÁT, 14) PHỔ HIỀN BỒ TÁT, 15) VĂN
THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT.
Như thị đẳng Bồ Tát Ma Ha Tát, giai thị quán đảnh Ðại Pháp Vương
Tử.
爾時如來於彼座上。將欲演說總持陀羅尼故。與無央數菩薩摩訶薩俱。其名曰總持王菩薩寶王菩薩。藥王菩薩藥上菩薩。觀世音菩薩大勢至菩薩。華嚴菩薩大莊嚴菩薩。寶藏菩薩德藏菩薩。金剛藏菩薩虛空藏菩薩。彌勒菩薩普賢菩薩文殊師利菩薩。如是等菩薩摩訶薩。皆是灌頂大 法王子。
At that time, the Thus Come One, sitting upon his throne, was about to proclaim the uniting and holding Dharani. With him were numberless Bodhisattvas, Mahasattvas, their names were: Uniting and Holdings King Bodhisattva, Jewel King Bodhisattva, Medicine King Bodhisattva, Medicine Superior Bodhisattva, The Bodhisattva Who Regards The World’s Sounds, 'Great Strength Bodhisattva, Flower Adornment Bodhisattva, Great Adornment Bodhisattva, Jewel Treasury Bodhisattva, Virtue Treasury Bodhisattva, Vajra Treasury Boddhisattva, Empty Space Treasury Bodhisattva, Maitreya Bodhisattva, Universal Worthy Bodhisattva, Manjushri Bodhisattva, and others such as these, all Bodhisattvas, Mahasattvas, great Dharma Princes who had been anointed on the crown.
Khi ấy, đức Như Lai ở trên pháp tòa, sắp muốn diễn nói môn tổng trì Ðà ra ni (5), có vô lượng số Bồ Tát ma ha tát (6) câu hội, các vị ấy là:
Tổng Trì Vương Bồ Tát,
Bảo Vương Bồ Tát,
Dược Vương Bồ Tát,
Dược Thượng Bồ Tát,
Quán Thế Âm Bồ Tát,
Đại Thế Chí Bồ Tát,
Hoa Nghiêm Bồ Tát,
Đại Trang Nghiêm Bồ Tát,
Bảo Tạng Bồ Tát,
Đức Tạng Bồ Tát,
Kim Cang Tạng Bồ Tát,
Hư Không Tạng Bồ Tát,
Di Lặc Bồ Tát (7) ,
Phổ Hiền Bồ Tát,
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (8) ...
Những vị Bồ Tát như thế đều là bậc quán đảnh đại pháp vương tử (9).
HỰU DỮ VÔ LƯỢNG VÔ SỐ ÐẠI THANH VĂN TĂNG, GIAI HÀNH A LA HÁN THẬP ÐỊA, MA HA CA DIẾP NHI VI THƯỢNG THỦ.
又與無量無數大聲聞僧。皆行阿羅漢。十地摩訶迦葉而為上首。
Also with him were limitless, numberless, great Sound Hearers,
all practicing Arahatship at the Tenth Ground, Mahakashyapa was at their head.
Lại có vô lượng vô số đại Thanh văn đều là bậc A La Hán (10), tu hạnh thập địa câu hội. Trong ấy, ngài Ma Ha Ca Diếp (11) làm thượng thủ.
HỰU DỮ VÔ LƯỢNG PHẠM-MA-LA THIÊN, THIỆN-TRA PHẠM-MA NHI
VI THƯỢNG THỦ.
又與無量梵摩羅天。善吒梵摩而為上首。
Also with him were countless gods of the Brahma world. The
Brahma Shan Cha was at their head.
Lại có vô lượng Phạm Ma La Thiên (12) câu hội. Trong ấy, ngài Thiện Tra Phạm Ma (13) làm thượng thủ.
HỰU DỮ VÔ LƯỢNG DỤC GIỚI CHƯ THIÊN-TỬ CÂU, CÙ-BÀ-GIÀ
THIÊN-TỬ NHI VI THƯỢNG THỦ.
又與無量欲界諸天子俱。瞿婆伽天子而為上首。
Also with him were all the innumerable gods of the desire realm.
The God Gopaka was at their head.
Lại có vô lượng chư thiên tử ở cõi trời Dục giới câu hội. Trong ấy, ngài Cù Bà Dà thiên tử (14) làm thượng thủ.
HỰU DỮ VÔ LƯỢNG HỘ THẾ TỨ VƯƠNG CÂU, ÐỀ-ÐẦU-LẠI-TRA NHI
VI THƯỢNG THỦ.
與無量護世四王俱。提頭賴吒而為上首。
Also with him were guardian kings of the four
directions from limitless worlds, Dhrtarashtra was at their head.
Lại có vô lượng hộ thế tứ Thiên vương câu hội (15) trong ấy, ngài Đề Đầu Lại Tra (16) làm thượng thủ.
HỰU DỮ VÔ LƯỢNG THIÊN, LONG, DẠ XOA, CÀN THÁT BÀ, A TU
LA, CA LÂU LA, KHẨN NA LA, MA HẦU LA GIÀ, NHÂN, PHI NHÂN ÐẲNG CÂU; THIÊN ÐỨC ÐẠI
LONG VƯƠNG NHI VI THƯỢNG THỦ.
又與無量天龍夜叉乾闥婆阿修羅迦樓羅緊那羅摩 睺羅伽人非人等俱。 天德大龍王而為上首。
Also with him were countless gods, dragons, yakshas,
gandharvas, asuras, garudas, kinnaras, mahoragas, people, non-people, and so
forth. The Great Dragon King Heavenly Virtue was at their head.
Lại có vô lượng Thiên, Long, Dạ xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, Nhơn, Phi Nhơn (17) câu hội. Trong ấy, ngài Thiên Đức đại Long vương làm thượng thủ.
HỰU DỮ VÔ LƯỢNG DỤC GIỚI CHƯ THIÊN NỮ CÂU, ÐỒNG-MỤC THIÊN
NỮ NHI VI THƯỢNG THỦ.
又與無量欲界諸天女俱。童目天女而為上 首。
Also with him were all the countless goddesses of the desire
realm. The goddess Youthful Eye was at their head.
Lại có vô lượng chư Thiên nữ ở cõi trời Dục giới câu hội, trong ấy, ngài Đồng Mục Thiên nữ làm thượng thủ.
HỰU DỮ VÔ LƯỢNG HƯ KHÔNG THẦN, GIANG HẢI THẦN, TUYỀN
NGUYÊN THẦN, HÀ CHIỂU THẦN, DƯỢC THẢO THẦN, THỌ LÂM THẦN, XÁ TRẠCH THẦN, THỦY
THẦN, HỎA THẦN, ÐỊA THẦN, PHONG THẦN, THỔ THẦN, SƠN THẦN, THẠCH THẦN, CUNG ÐIỆN
ÐẲNG THẦN, GIAI LAI TẬP HỘI.
又與無量虛空神。江海神泉源神河沼神。藥草神樹林神舍宅神。水神火神地神風神。土神山神石神。宮殿等神皆來集會。
Also with him were countless empty space spirits,
river and sea spirits, spring and fountain spirits, stream and pond spirits,
medicinal herb spirits, tree and forest spirits, spirits of dwellings, water
spirits, fire spirits, earth spirits, wind spirits, land spirits, mountain
spirits, stone spirits, palace spirits, and so forth. All came and gathered
together in the assembly.
Lại có vô lượng Thần Hư không, Thần Giang hải, Thần Tuyền nguyên, Thần Hà chiểu, Thần dược thảo, Thần Thọ lâm, Thần xá trạch, Thần cung điện, cùng Thủy thần, Hỏa thần, Địa thần, Phong thần, Thổ thần, Sơn thần, Thạch thần ... đều đến tập hội.
THỜI QUÁN THẾ ÂM BỒ-TÁT, Ư ÐẠI HỘI TRUNG, MẬT PHÓNG THẦN
THÔNG QUANG MINH, CHIẾU DIỆU THẬP PHƯƠNG SÁT ÐỘ CẬP THỬ TAM THIÊN ÐẠI THIÊN THẾ
GIỚI, GIAI TÁC KIM SẮC.
時觀世音菩薩。於大會中密放神通。光明照曜十方剎土。及此三千大千世界。皆作金色。
At that time the Bodhisattva Who Regards the World’s
Sounds, in the midst of the great assembly, secretly put forth spiritually
penetrating bright light which brilliantly illuminated the fields of the ten
directions and reached throughout three thousand great-thousand worlds, so that
they were all colored gold.
Bấy giờ, đức Quán Thế Âm Bồ Tát ở trong đại hội, mật phóng ánh thần thông quang minh, chiếu sáng mười phương sát độ và cõi tam thiên đại thiên thế giới này đều thành sắc vàng.
THIÊN CUNG, LONG CUNG, CHƯ TÔN THẦN CUNG, GIAI TẤT CHẤN ÐỘNG.
GIANG HÀ ÐẠI HẢI, THIẾT VI SƠN, TU DI SƠN, THỔ SƠN, HẮC SƠN, DIỆC GIAI ÐẠI ÐỘNG.
NHẬT NGUYỆT CHÂU HỎA, TINH TÚ CHI QUANG, GIAI TẤT BẤT HIỆN.
天宮龍宮諸尊神宮皆悉震動。江河大海鐵圍山須彌山。土山黑山亦皆大動。日月珠火星宿之光皆悉不現。
All the heavenly palaces, dragon palaces, and all the venerable spirit palaces trembled. The large rivers, small rivers, and seas, Iron Mountain, Sumeru Mountain, Land Mountain, and Black Mountain also shook. The pearl fire of the sun and moon and the light of the constellations -all ceased to shine.
Từ Thiên cung, Long cung cho đến cung điện của các vị tôn thần thảy đều chấn động. Biển cả, sông nguồn, núi Thiết Vi (18) , núi Tu Di (19), cùng thổ sơn, hắc sơn, cũng đều rung động dữ dội. Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, và châu báu và lửa đều bị ánh kim quang rực rỡ kia lấn át làm cho ẩn mất không hiện.
Ư THỊ TỔNG TRÌ VƯƠNG BỒ
TÁT, KIẾN THỬ HY HỮU CHI TƯỚNG, QUÁI VỊ TẰNG HỮU, TỨC TÙNG TÒA KHỞI, XOA THỦ HỢP
CHƯỞNG, DĨ KỆ VẤN PHẬT, NHƯ THỬ THẦN THÔNG CHI TƯỚNG, THỊ THÙY SỞ PHÓNG.
DĨ
KỆ VẤN VIẾT:
於是總持王菩薩。見此希有之相怪未曾有。即從座起叉手合掌。以偈問佛。如此神通之相是誰所放。 以偈問曰
At that time Uniting and Holding King Bodhisattva,
seeing this rare and unheard-of appearance, arose from his seat, joined his
palms, and with a verse, asked the Buddha who it was who had put forth such an
appearance of spiritual penetration. The verse runs:
Lúc đó, ngài Tổng Trì Vương Bồ Tát thấy tướng trạng hy hữu ấy, lấy làm lạ cho là việc chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay, dùng lời kệ hỏi Phật, để biết tướng thần thông kia do ai làm ra, kệ rằng:
THÙY
Ư KIM NHẬT THÀNH CHÁNH GIÁC,
PHỔ
PHÓNG NHƯ THỊ ÐẠI QUANG MINH,
誰於今日成正覺
普放如是大光明
Who on this day has realized right enlightenment, Putting
forth such great brilliant light?
Ai thành chánh giác trong ngày nay?
Khắp phóng ánh sáng như thế này.
THẬP
PHƯƠNG SÁT ÐỘ GIAI KIM SẮC,
TAM
THIÊN THẾ GIỚI DIỆC PHỤC NHIÊN?
十方剎土皆金色
三千世界亦復然
The fields of the ten directions are all colored gold,
And three thousand world systems are also shining.
Mười phương sát độ thành sắc vàng,
Cả cõi đại thiên cũng như vậy.
THÙY
Ư KIM NHẬT ÐẮC TỰ TẠI,
DIỄN
PHÓNG HY HỮU ÐẠI THẦN LỰC,
誰於今日得自在
演放希有大神力
Who on this day has attained comfort.
Diffusing spiritual powers, great and rare?
Ai được tự tại trong ngày nay?
Phổ diễn thần lực ít có này.
VÔ
BIÊN PHẬT QUỐC GIAI CHẤN ÐỘNG,
LONG
THẦN CUNG ÐIỆN TẤT BẤT AN?
無邊佛國皆震動
龍神宮殿悉不安
Boundless Buddha lands tremble and shake.
Dragon and spirit palaces are not at peace.
Không ngằn cõi Phật đều rung động,
Cung điện long thần cũng long lay.
KIM
THỬ ÐẠI CHÚNG HÀM HỮU NGHI,
BẤT
TRẮC NHÂN DUYÊN THỊ THÙY LỰC,
今此大眾咸有疑
不測因緣是誰力
The entire assembly now holds doubts.
Not knowing whose power created these
conditions.
Nay trong chúng hội đều sanh nghi,
Chẳng biết đây là nhân duyên gì?
VI
PHẬT, BỒ TÁT, ÐẠI THANH VĂN,
VI
PHẠM MA THIÊN, CHƯ THÍCH ÐẲNG?
為佛菩薩大聲聞
為梵魔天諸釋等
Is it the Buddha, the Bodhisattvas, or the great Sound Hearers?
The Brahma gods, Mara gods, or Shakra perhaps?
Là của Bồ tát, đại Thanh văn,
Hay trời Đế Thích, cùng Phạm ma?
DUY
NGUYỆN THẾ TÔN ÐẠI TỪ BI,
THUYẾT
THỬ THẦN THÔNG SỞ DO DĨ.
唯願世尊大慈悲
說此神通所由以
We pray for the World Honoured One’s great
compassion,
To explain to us the cause of this spiritual penetration.
Sức thần thông này ai làm ra,
Là ánh quang minh đấng Phật Đà.
Muốn cầu hiểu rõ, tâm thành kính,
Hướng trông về ngôi đại từ bi.
PHẬT CÁO TỔNG TRÌ VƯƠNG
BỒ TÁT NGÔN: "THIỆN NAM TỬ! NHỮ ÐẲNG ÐƯƠNG TRI, KIM THỬ HỘI TRUNG, HỮU
NHẤT BỒ-TÁT MA-HA-TÁT DANH VIẾT QUÁN-THẾ-ÂM TỰ-TẠI, TÙNG VÔ LƯỢNG KIẾP LAI,
THÀNH TỰU ÐẠI TỪ ÐẠI BI, THIỆN NĂNG TU TẬP VÔ LƯỢNG ÐÀ-LA-NI MÔN, VI DỤC AN LẠC
CHƯ CHÚNG SANH CỐ, MẬT PHÓNG NHƯ THỊ ÐẠI THẦN THÔNG LỰC."
佛告總持王菩薩言:善男子!汝等當知,今此會中,有一菩薩摩訶薩,名曰『觀世音自在』。從無量劫來,成就大慈大悲,善能修習無量陀羅尼門,為欲安樂諸眾生故,密放如是大神通力。
Đức Phật bảo Tổng Trì Vương Bồ Tát:
"Thiện nam tử! Các ông nên biết trong pháp hội này, có vị Bồ Tát Ma Ha Tát, tên là Quán Thế Âm Tự Tại, từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu tâm đại từ bi, lại khéo tu tập vô lượng Đà la ni môn. Vị Bồ Tát ấy vì muốn làm cho chúng sanh được lợi ích an vui, nên mới mật phóng sức thần thông như thế".
PHẬT THUYẾT THỊ NGỮ DĨ, NHĨ
THỜI QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT TÙNG TÒA NHI KHỞI, CHỈNH LÝ Y PHỤC, HƯỚNG PHẬT HỢP
CHƯỞNG, BẠCH PHẬT NGÔN:
佛說是語已。爾時,觀世音菩薩,從座而起,整理衣服,向佛合掌,白佛言:
THẾ TÔN! NGÃ HỮU ÐẠI BI
TÂM ÐÀ-LA-NI CHÚ, KIM ÐƯƠNG DỤC THUYẾT, VI CHƯ CHÚNG SANH ÐẮC AN LẠC CỐ, TRỪ
NHẤT THIẾT BỆNH CỐ, ÐẮC THỌ MẠNG CỐ, ÐẮC PHÚ NHIÊU CỐ, DIỆT TRỪ NHẤT THIẾT ÁC
NGHIỆP TRỌNG TỘI CỐ, LY CHƯỚNG NẠN CỐ, TĂNG TRƯỞNG NHẤT THIẾT BẠCH PHÁP CHƯ
CÔNG ÐỨC CỐ, THÀNH TỰU NHẤT THIẾT CHƯ THIỆN CĂN CỐ, VIỄN LY NHẤT THIẾT CHƯ BỐ
ÚY CỐ, TỐC NĂNG MÃN TÚC NHẤT THIẾT CHƯ HY CẦU CỐ, DUY NGUYỆN THẾ-TÔN TỪ AI
THÍNH HỨA.
世尊!我有大悲心陀羅尼呪,今當欲說。為諸眾生得安樂故,除一切病故,得壽命故,得富饒故,滅除一切惡業、重罪故,離障難故,增長一切白法諸功德故,成就一切諸善根故,遠離一切諸怖畏故,速能滿足一切諸希求故。惟願世尊,慈哀聽許!
“World Honoured One, I have a Great Compassion Dharani-Mantra
which I now wish to speak so that all living beings might obtain peace and
delight, be rid of every sickness, and attain long life; so that they might
obtain prosperity, wipe away the evil Karma of heavy offenses, separate
themselves from obstacles and hardships, grow in all the pure Dharmas and in
every kind of merit and virtue; so that they might create only good roots,
become separate from fear, and quickly fulfill all their longings. World
Honored One, please be merciful and allow it to be heard.”
''Bạch đức Thế Tôn, tôi có
chú Đại Bi tâm đà ra ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được
trừ tất cả bịnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng,
được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự
sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa".
PHẬT NGÔN: "THIỆN NAM TỬ! NHỮ ÐẠI TỪ BI, AN LẠC CHÚNG
SANH, DỤC THUYẾT THẦN CHÚ, KIM CHÁNH THỊ THỜI, NGHI ƯNG TỐC THUYẾT, NHƯ LAI TÙY
HỶ, CHƯ PHẬT DIỆC NHIÊN."
佛言:善男子!汝大慈悲,安樂眾生。欲說神呪,今正是時,宜應速說。如來隨喜,諸佛亦然。
The Buddha said, “Good Man, your great compassion puts living beings at ease. You wish to speak the spiritual mantra; now is the proper time. It is right and fitting that you speak it without delay. The World Honored One and all the Buddhas approve.”
Đức Phật bảo: "Thiện
nam tử! Ông có tâm đại từ bi, muốn nói thần chú (20) để làm lợi ích an
vui cho tất cả chúng sanh. Hôm nay chính là lúc hợp thời, vậy ông nên mau nói
ra, Như Lai tùy hỉ chư Phật cũng thế".
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT TRÙNG BẠCH PHẬT NGÔN: "THẾ TÔN!
NGÃ NIỆM QUÁ KHỨ VÔ LƯỢNG ỨC KIẾP, HỮU PHẬT XUẤT THẾ DANH VIẾT THIÊN QUANG
VƯƠNG TĨNH TRỤ NHƯ LAI. BỈ PHẬT THẾ TÔN, LÂN NIỆM NGÃ CỐ, CẬP VI NHẤT THIẾT CHƯ
CHÚNG SANH CỐ, THUYẾT THỬ QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ÐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI, DĨ
KIM SẮC THỦ, MA NGÃ ÐẢNH THƯỢNG, TÁC NHƯ THỊ NGÔN:
觀世音菩薩重白佛言:世尊!我念過去無量億劫,有佛出世,名曰千光王靜住如來。彼佛世尊憐念我故,及為一切諸眾生故,說此廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼。以金色手摩我頂上作如是言
Quán Thế Âm Bồ Tát lại bạch
Phật: "Bạch đức Thế tôn! Tôi nhớ vô lượng ức kiếp về trước, có Phật ra đời,
hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai, đức Phật ấy vì thương nghĩ đến tôi
và tất cả chúng sanh nên nói ra môn Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra
Ni, ngài lại dùng tay sắc vàng xoa nơi đầu tôi mà bảo:
THIỆN NAM TỬ! NHỮ ÐƯƠNG
TRÌ THỬ TÂM CHÚ, PHỔ VI VỊ LAI ÁC THẾ NHẤT THIẾT CHÚNG SANH, TÁC ÐẠI LỢI LẠC.
善男子!汝當持此心呪,普為未來惡世一切眾生,作大利樂。
Good man. you should now hold this heart mantra for
the sake of all living beings in the evil times of the future, for it will
cause them great benefit and delight.
Thiện nam tử! Ông nên thọ
trì tâm chú này và vì khắp tất cả chúng sanh trong cõi nước ở đời vị lai mà làm
cho họ được sự an vui lớn.
NGÃ Ư THỊ THỜI. THỦY TRỤ
SƠ ÐỊA, NHẤT VĂN THỬ CHÚ CỐ, SIÊU ÐỆ BÁT ÐỊA, NGÃ THỜI TÂM HOAN HỶ CỐ, TỨC PHÁT
THỆ NGÔN: “NHƯỢC NGÃ ÐƯƠNG LAI, KHAM NĂNG LỢI ÍCH AN LẠC NHẤT THIẾT CHÚNG SANH
GIẢ, LINH NGÃ TỨC THỜI THÂN SANH THIÊN THỦ THIÊN NHÃN CỤ TÚC !”
我於是時,始住初地,一聞此呪故,超第八地。我時心歡喜故,即發誓言:若我當來,堪能利益、安樂一切眾生者,令我即時,身生千手、千眼具足。
I was then dwelling as a beginner at the First Ground, but upon once hearing this mantra, I ascended to the Eighth Ground. At that time, because of the great joy in my heart, I made this vow: ‘If, in the future, I am able to benefit living beings and make them happy, then may my body right now be complete with a thousand hands and a thousand eyes.’
Lúc đó tôi mới ở ngôi sơ địa,
vừa nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Bấy giờ tôi rất vui
mừng, liền phát thệ rằng: “Nếu trong đời vị lai, tôi
có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến
cho thân tôi liền sanh ra ngàn tay ngàn mắt”.
PHÁT THỊ NGUYỆN DĨ, ƯNG
THỜI THÂN THƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN TẤT GIAI CỤ TÚC, THẬP PHƯƠNG ÐẠI ÐỊA LỤC
CHỦNG CHẤN ÐỘNG, THẬP PHƯƠNG THIÊN PHẬT, TẤT PHÓNG QUANG MINH, CHIẾU XÚC NGÃ
THÂN, CẬP CHIẾU THẬP PHƯƠNG VÔ BIÊN THẾ GIỚI.
發是願已,應時身上,千手千眼,悉皆具足;十方大地,六種震動;十方千佛,悉放光明,照觸我身,及照十方,無邊世界。
Khi tôi phát thệ rồi, thì
ngàn tay ngàn mắt đều hiện đủ nơi thân, lúc ấy, cõi đất mười phương rung động
sáu cách (21),
ngàn đức Phật trong mười phương đều phóng ánh quang minh soi đến thân tôi, và
chiếu sáng mười phương vô biên thế giới.
TÙNG THỊ DĨ HẬU, PHỤC Ư VÔ LƯỢNG PHẬT SỞ, VÔ LƯỢNG HỘI TRUNG, TRÙNG CÁNH ÐẮC VĂN, THÂN THỪA THỌ TRÌ THỊ ÐÀ-LA-NI, PHỤC SANH HOAN HỶ, DŨNG DƯỢC VÔ LƯỢNG, TIỆN ÐẮC SIÊU VIỆT VÔ SỐ ỨC KIẾP VI TẾ SANH TỬ. TÙNG THỊ DĨ LAI THƯỜNG SỞ TỤNG TRÌ, VỊ TẰNG PHẾ VONG.
從是已後,復於無量佛所、無量會中,重更得聞,親承受持,是陀羅尼。復生歡喜,踊躍無量,便得超越無數億劫微細生死。從是已來,常所誦持,未曾廢忘,
From that time onward, all beings in the places of
the countless Buddhas and in limitless assemblies were able to hear, personally
accept, and maintain-this Dharani. There was happiness and dancing for joy
without end as they transcended countless millions of aeons of subtle birth and
death. From that time onward, the mantra has been constantly recited and never
forgotten.
Từ đó về sau, tôi ở trong
vô lượng pháp hội của vô lượng chư Phật, lại được nghe và thọ trì môn đà ra ni
này. Mỗi lần nghe xong, tôi khôn xiết vui mừng, liền được vượt qua sự sanh tử
vi tế (22) trong
vô số ức kiếp. Và từ ấy đến nay, tôi vẫn hằng trì tụng chú này, chưa từng quên
bỏ.
DO TRÌ THỬ CHÚ CỐ, SỞ SANH CHI XỨ, HẰNG TẠI PHẬT TIỀN,
LIÊN HOA HÓA SANH, BẤT THỌ THAI TẠNG CHI THÂN.
由持此呪故,所生之處,恒在佛前,蓮華化生,不受胎藏之身。
Because one holds this mantra, one is always born in the
presence of the Buddhas, one is born by transformation from a lotus and is
never born from a womb.
Do sức trì tụng ấy, tùy
theo chỗ sanh, tôi không còn chịu thân bào thai, được hóa sanh nơi hoa sen, thường
gặp Phật nghe pháp.
NHƯỢC HỮU TỲ KHEO, TỲ KHEO NI, ƯU BÀ TẮC, ƯU BÀ DI, ÐỒNG
NAM, ÐỒNG NỮ, DỤC TỤNG TRÌ GIẢ, Ư CHƯ CHÚNG SANH KHỞI TỪ BI TÂM, TIÊN ÐƯƠNG
TÙNG NGÃ PHÁT NHƯ THỊ NGUYỆN:
若有比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷、童男、童女,欲誦持者,於諸眾生,起慈悲心,先當從我,發如是願:
If there are Bhikshus, Bhikshunis, Upasakas, Upasikas, young men
or young women who wish to recite and hold this mantra, and to bring forth a
heart of great compassion for all beings, they should first follow me in making
these vows:
Nếu có vị Tì khưu, Tỳ khưu
Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di (23) hay
đồng nam, đồng nữ nào muốn tụng trì chú này, trước tiên phải phát tâm từ bi đối
với chúng sanh, và sau đây y theo tôi mà phát nguyện:
1) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TỐC TRI NHẤT
THIẾT PHÁP;
南無大悲觀世音!
願我速知一切法。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s Sounds,
May I quickly know all dharmas,
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau biết tất cả
pháp.
2) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TẢO ÐẮC TRÍ
HUỆ NHÃN;
南無大悲觀世音!
願我早得智慧眼。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s Sounds,
May I soon attain the wisdom-eye
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được mắt
trí huệ.
3) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TỐC ÐỘ NHẤT THIẾT CHÚNG;
南無大悲觀世音!
願我速度一切眾。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s Sounds,
May I quickly save all beings,
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau độ các
chúng sanh.
4) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TẢO ÐẮC THIỆN
PHƯƠNG TIỆN;
南無大悲觀世音!
願我早得善方便。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s Sounds,
May I soon attain good skillfull-means,
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được phương
tiện khéo.
5) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TỐC THỪA
BÁT-NHÃ THUYỀN;
南無大悲觀世音!
願我速乘般若船。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s Sounds,
May I quickly board the Prajna-boat,
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau lên thuyền
Bát nhã.
6) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TẢO ÐẮC VIỆT
KHỔ HẢI;
南無大悲觀世音!
願我早得越苦海。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s Sounds,
May I soon get out of the sea of suffering,
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được qua biển
khổ.
7) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TỐC ÐẮC GIỚI
ÐỊNH ÐẠO;
南無大悲觀世音!
願我速得戒定道。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s
Sounds,
May I quickly attain Morality, Samadhi, and the Way.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau được giới định đạo.
8) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TẢO ÐĂNG
NIẾT-BÀN SƠN;
南無大悲觀世音!
願我早登涅槃山。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s
Sounds,
May I soon ascend Nirvana Mountain,
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm lên non Niết
Bàn.
9) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TỐC HỘI VÔ-VI
XÁ;
南無大悲觀世音!
願我速會無為舍。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s
Sounds,
May I quickly dwell in the unconditioned.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau về nhà vô
vi.
10) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM,
NGUYỆN NGÃ TẢO ÐỒNG PHÁP
TÁNH THÂN.
南無大悲觀世音!
願我早同法性身。
Namo Compassionate One Who Regards the World’s
Sounds,
May I soon unite with the Dharma-nature body.
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng thân
pháp tánh.
NGÃ NHƯỢC HƯỚNG ÐAO SƠN,
ÐAO SƠN TỰ TỒI CHIẾT;
我若向刀山,
刀山自摧折。
When I face the mountain of knives,
The mountain of knives of itself breaks up;
Nếu con hướng về nơi non
đao,
Non đao tức thời liền sụp
đổ.
NGÃ NHƯỢC HƯỚNG HỎA
THANG,
HỎA THANG TỰ KHÔ KIỆT;
我若向火湯,
火湯自消滅。
When I face the boiling oil,
The boiling oil of itself dries up,
Nếu con hướng về lửa, nước
sôi,
Nước sôi, lửa cháy tự khô
tắt.
NGÃ NHƯỢC HƯỚNG ÐỊA
NGỤC,
ÐỊA NGỤC TỰ TIÊU DIỆT;
我若向地獄,
地獄自枯竭。
When I face the hells,
The hells of themselves disappear,
Nếu con hướng về cõi địa
ngục,
Ðịa ngục liền mau tự tiêu
diệt.
NGÃ NHƯỢC HƯỚNG NGẠ QUỶ,
NGẠ QUỶ TỰ BÃO MÃN;
我若向餓鬼,
餓鬼自飽滿。
When I face the hungry ghosts,
The hungry ghosts of themselves are full,
Nếu con hướng về loài ngạ
quỷ,
Ngạ quỷ liền được tự no đủ.
NGÃ NHƯỢC HƯỚNG TU-LA,
ÁC TÂM TỰ ÐIỀU PHỤC;
我若向修羅,
惡心自調伏。
When I face the Asuras,
Their evil thoughts of themselves are tamed,
Nếu con hướng về chúng Tu
La,
Tu la tâm ác tự điều phục.
NGÃ NHƯỢC HƯỚNG SÚC
SANH,
TỰ ÐẮC ÐẠI TRÍ HUỆ.
我若向畜生,
自得大智慧。
When I face the animals,
They themselves attain great wisdom.
Nếu con hướng về các súc
sanh,
Súc sanh tự được trí huệ lớn.
PHÁT THỊ NGUYỆN DĨ, CHÍ TÂM XƯNG NIỆM NGÃ CHI DANH TỰ, DIỆC
ƯNG CHUYÊN NIỆM NGÃ BỔN SƯ A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI; NHIÊN HẬU TỨC ÐƯƠNG TỤNG THỬ
ÐÀ-LA-NI THẦN CHÚ. NHẤT TÚC TỤNG MÃN NGŨ BIẾN, TRỪ DIỆT THÂN TRUNG BÁCH THIÊN VẠN
ỨC KIẾP SANH TỬ TRỌNG TỘI.
發是願已,至心稱念,我之名字,亦應專念,我本師阿彌陀如來,然後即當誦此陀羅尼神呪。一宿誦滿五遍,除滅身中,百千萬億劫生死重罪。
After making these vows, you should
recite MY NAME with a sincere heart and also recite singlemindedly the name of
MY TEACHER, THE THUS COME ONE, AMITABHA. Afterwards, you should recite this
Dharani, the Spiritual Mantra. To recite it A FULL FIVE TIMES in one evening is
to wipe away your heavy offenses of hundreds, thousands, tens of thousands of
millions of aeons of BIRTH and DEATH.
Khi phát lời nguyện ấy
xong, chí tâm xưng danh hiệu của tôi, lại chuyên niệm danh hiệu bổn sư tôi là đức
A Di Đà Như Lai (24),
kế đó tiếp tụng đà ra ni thần chú này. Nếu chúng sanh nào, trong một ngày đêm tụng
năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong ngàn muôn ức kiếp sanh tử.
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỤC BẠCH PHẬT NGÔN: "THẾ TÔN!
NHƯỢC CHƯ NHÂN THIÊN TỤNG TRÌ ÐẠI BI CHƯƠNG CÚ GIẢ, LÂM MẠNG CHUNG THỜI, THẬP
PHƯƠNG CHƯ PHẬT GIAI LAI THỌ THỦ; DỤC SANH HÀ ÐẲNG PHẬT ÐỘ, TÙY NGUYỆN GIAI ÐẮC
VÃNG SANH.
觀世音菩薩復白佛言:「世尊!若諸人天,誦持大悲章句者,臨命終時,十方諸佛,皆來授手。欲生何等佛土,隨願皆得往生。
The Bodhisattva Who Regards the World’s Sounds again addressed
the Buddha, saying, “World Honored One, if humans and gods recite and hold the
phrases of the Great Compassion Mantra, then when they approach the end of
life, all the Buddhas of the ten directions will come to take them by the hand
to rebirth in whatever Buddhaland they wish, according to their desire.
Quán Thế Âm Bồ Tát lại bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu chư
nhân thiên nào trì tụng thần chú Đại Bi, thì lúc lâm chung mười phương chư Phật
đều đến cầm tay tiếp dẫn; và muốn sanh về cõi Phật nào cũng đều được tùy nguyện
vãng sanh”.
PHỤC BẠCH PHẬT NGÔN:
"THẾ TÔN! NHƯỢC CHƯ CHÚNG SANH TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ, ÐỌA TAM ÁC ÐẠO GIẢ,
NGÃ THỆ BẤT THÀNH CHÁNH GIÁC.
復白佛言:「世尊!若諸眾生,誦持大悲神呪,墮三惡道者,我誓不成正覺。
He further said to the Buddha. “World Honored One, should any
living being who recites and holds the spiritual mantra of Great Compassion
fall into the three evil paths, I vow not to realize the right enlightenment.
Quán Thế Âm Bồ Tát lại bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào trì tụng thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành chánh giác.
TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ
GIẢ, NHƯỢC BẤT SANH CHƯ PHẬT QUỐC GIẢ, NGÃ THỆ BẤT THÀNH CHÁNH GIÁC.
誦持大悲神呪者,若不生諸佛國者,我誓不成正覺。
Should any living being who recites and holds the spiritual mantra
of Great Compassion not be reborn in any Buddhaland, I vow not to realize the
right enlightenment.
Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sanh về các cõi Phật, tôi thề không thành chánh giác.
TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ
GIẢ, NHƯỢC BẤT ÐẮC VÔ LƯỢNG TAM-MUỘI BIỆN TÀI GIẢ, NGÃ THỆ BẤT THÀNH CHÁNH
GIÁC.
誦持大悲神呪者,若不得無量三昧辯才者,我誓不成正覺。
Should any living being who recites and holds the spiritual
mantra of Great Compassion not obtain unlimited samadhis and eloquence, I vow
not to realize the right enlightenment.
Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng tam muội biện tài (25) tôi thề không thành chánh giác.
TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ GIẢ, Ư HIỆN TẠI SANH TRUNG, NHẤT
THIẾT SỞ CẦU NHƯỢC BẤT QUẢ TOẠI GIẢ, BẤT ÐẮC VI ÐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI DÃ; DUY TRỪ
BẤT THIỆN, TRỪ BẤT CHÍ THÀNH.
誦持大悲神呪者,於現在生中一切所求,若不果遂者,不得為大悲心陀羅尼也。唯除不善,除不至誠。
Should any living being who recites and holds the spiritual mantra of
Great Compassion not obtain the fruits of whatever is sought in this very life,
then he cannot have been making proper use of the Dharani of the Great
Compassion Heart'
Tụng trì thần chú Đại Bi tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được vừa ý, thì chú này không được gọi là Đại Bi tâm đà ra ni, duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành.
NHƯỢC CHƯ NỮ NHÂN YẾM TIỆN NỮ THÂN, DỤC THÀNH NAM TỬ
THÂN, TỤNG TRÌ ÐẠI BI ÐÀ-LA-NI CHƯƠNG CÚ, NHƯỢC BẤT CHUYỂN NỮ THÂN THÀNH NAM TỬ
THÂN GIẢ, NGÃ THỆ BẤT THÀNH CHÁNH GIÁC; SANH THIỂU NGHI TÂM GIẢ, TẤT BẤT QUẢ TOẠI
DÃ.
若諸女人,厭賤女身,欲成男子身,誦持大悲陀羅尼章句。若不轉女身成男子身者,我誓不成正覺。生少疑心者,必不果遂也。
Merely cast out what is unwholesome and what is insincere. Should a Woman who dislikes her female body and wishes to become a Man recite the phrases of THE GREAT COMPASSION DHARANI and not change from a Female to a Male, I vow not to realize the right enlightenment. But if the slightest doubt is produced, the result will not follow.
Nếu các người nữ chán ghét
thân nữ, muốn được thân nam, tụng trì thần chú Đại Bi, như không chuyển nữ
thành nam, tôi thề không thành chánh giác. Như kẻ nào tụng trì chú này, nếu còn
sanh chút lòng nghi, tất không được toại nguyện.
NHƯỢC
CHƯ CHÚNG SANH XÂM TỔN THƯỜNG TRỤ ẨM THỰC TÀI VẬT, THIÊN PHẬT XUẤT THẾ BẤT
THÔNG SÁM HỐI, TÚNG SÁM DIỆC BẤT TRỪ DIỆT, KIM TỤNG ÐẠI BI THẦN CHÚ, TỨC ÐẮC TRỪ
DIỆT. NHƯỢC XÂM TỔN THỰC DỤNG THƯỜNG TRỤ ẨM THỰC TÀI VẬT, YẾU ÐỐI THẬP PHƯƠNG
SƯ SÁM TẠ, NHIÊN THỦY TRỪ DIỆT; KIM TỤNG ÐẠI BI ÐÀ-LA-NI THỜI, THẬP PHƯƠNG SƯ TỨC
LAI VI TÁC CHỨNG MINH, NHẤT THIẾT TỘI CHƯỚNG, TẤT GIAI TIÊU DIỆT.
若諸眾生,侵損常住、飲食、財物,千佛出世,不通懺悔,縱懺亦不除滅。今誦大悲神呪,即得除滅。若侵損食用,常住飲食、財物,要對十方師懺謝,然始除滅。今誦大悲陀羅尼時,十方師即來,為作證明,一切罪障,悉皆消滅。
If living beings usurp the food, drink, and possessions
of the permanently dwelling, although a thousand
buddhas appear in the world, they will not get to
repent and reform. Should they repent, their offenses
will not be eradicated. But now, to recite this
spiritual MANTRA of GREAT COMPASSION is to wipe away
even those offenses. One who has usurped the food,
drink, or possessions of the permanently dwelling
should repent before the Masters of the ten
directions; the offenses will then be wiped away. When
one recites THE GREAT COMPASSION DHARANI, THE MASTERS
of the ten directions come to guarantee that all
offense-obstacles are completely wiped away.
Nếu chúng sanh nào xâm tổn
tài vật, thức ăn uống của thường trụ (26) sẽ mang tội rất nặng, do nghiệp ác ngăn che,
giả sử ngàn đức Phật ra đời cũng không được sám hối, dù có sám hối cũng không
trừ diệt.
Nếu đã phạm tội ấy, cần phải
đối mười phương Ðạo sư sám hối, mới có thể tiêu trừ. Nay do tụng trì chú Đại Bi
liền được trừ diệt. Tại sao thế? Bởi khi tụng chú Đại Bi tâm đà ra ni, mười
phương Ðạo sư đều đến vì làm chứng minh, nên tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt.
NHẤT THIẾT THẬP ÁC, NGŨ NGHỊCH, BÁNG NHÂN BÁNG PHÁP, PHÁ TRAI PHÁ GIỚI, PHÁ THÁP HOẠI TỰ, THÂU TĂNG KỲ VẬT, Ô TỊNH PHẠM HẠNH; NHƯ THỊ ÐẲNG NHẤT THIẾT ÁC NGHIỆP TRỌNG TỘI, TẤT GIAI DIỆT TẬN. DUY TRỪ NHẤT SỰ, Ư CHÚ SANH NGHI GIẢ, NÃI CHÍ TIỂU TỘI KHINH NGHIỆP, DIỆC BẤT ÐẮC DIỆT, HÀ HUỐNG TRỌNG TỘI? TUY BẤT TỨC DIỆT TRỌNG TỘI, DO NĂNG VIỄN TÁC BỒ ÐỀ CHI NHÂN.
一切十惡、五逆、謗人、謗法、破齋、破戒、破塔、壞寺、偷僧祇物、污淨梵行,如是等一切惡業、重罪,悉皆滅盡。唯除一事,於呪生疑者,乃至小罪輕業,亦不得滅,何況重罪?雖不即滅重罪,猶能遠作菩提之因。
All heavy evil karmic offenses such
as the ten evils, the five rebellious acts, slandering people, slandering the
dharma, breaking the rules of pure eating, breaking the precepts, destroying
Stupas or Temples, stealing from the Sangha, defiling pure Brahman conduct, all
are completely eradicated. These is one exception: If one has doubt with regard
to this Mantra, then even small offenses and light Karma will not be destroyed,
how much the less the heavy Karma. Although heavy offenses are not destroyed,
one may still plant the distant causes of Bodhi.
Chúng sanh nào tụng chú
này, tất cả tội thập ác ngũ nghịch (27), báng pháp, phá người, phá giới, phạm trai, hủy hoại
chùa tháp, trộm của tăng kỳ (28),
làm nhơ phạm hạnh (29) ,
bao nhiêu tội ác nghiệp nặng như thế đều được tiêu hết, duy trừ một việc: kẻ tụng
đối với chú còn sanh lòng nghi.
Nếu có sanh tâm ấy, thì tội
nhỏ nghiệp nhẹ cũng không được tiêu, huống chi tội nặng? Nhưng tuy không liền
diệt được tội nặng, cũng có thể làm nhân Bồ đề về kiếp xa sau.
PHỤC BẠCH PHẬT NGÔN: "THẾ TÔN!
NHƯỢC CHƯ NHÂN THIÊN TỤNG TRÌ ÐẠI BI TÂM CHÚ GIẢ, ÐẮC THẬP NGŨ CHỦNG THIỆN
SANH, BẤT THỌ THẬP NGŨ CHỦNG ÁC TỬ DÃ. KỲ
ÁC TỬ GIẢ:
復白佛言:「世尊!若諸人天,誦持大悲心呪者,得十五種善生,不受十五種惡死也。其惡死者:
He addressed the Buddha further,
saying, World Honored One. people and gods who recite and hold the Great
Compassion Heart Mantra will obtain fifteen kinds of good birth and will not
suffer fifteen kinds of bad death. The bad deaths are:
Bạch đức Thế Tôn! Nếu các
hàng trời, người tụng trì thần chú Đại Bi, thì không bị 15 việc chết xấu, sẽ được
15 chỗ sanh tốt.
- Thế nào là 15 việc chết
xấu?
NHẤT GIẢ, BẤT LINH KỲ CƠ NGẠ KHỐN KHỔ TỬ;
一者,不令其飢餓困苦死
1) They will not die of starvation or privation.
Không
bị chết do đói khát khốn khổ.
NHỊ GIẢ, BẤT VI GIÀ CẤM TRƯỢNG SỞ TỬ;
二者,不為枷禁杖楚死。
2) They will not die from having been yoked, imprisoned,
caned or otherwise beaten.
Không bị chết do gông tù đánh đập.
TAM GIẢ, BẤT VI OÁN GIA THÙ ÐỐI TỬ;
三者,不為怨家讐對死
3) They will not die at the hands of hostile enemies.
Không bị chết vì oan gia thù địch.
TỨ GIẢ, BẤT VI QUÂN TRẬN TƯƠNG SÁT TỬ;
四者,不為軍陣相殺死。
4) They will not be killed in military battle.
Không bị chết giữa quân trận chém giết nhau.
NGŨ GIẢ, BẤT VI HỔ LANG ÁC THÚ TÀN HẠI TỬ;
五者,不為犲狼惡獸殘害死。
5) They will not be killed by tigers, wolves, or other evil
beasts.
Không bị chết do cọp sói cùng ác thú tàn hại.
LỤC GIẢ, BẤT VI ÐỘC XÀ NGOAN YẾT SỞ TRÚNG TỬ;
六者,不為毒蛇蚖蠍所中死。
6) They will not die from the venom of poisonous snakes, black
serpents, or scorpions.
Không bị chết bởi rắn rít độc cắn.
THẤT GIẢ, BẤT VI THUỶ HỎA PHẦN PHIÊU TỬ;
七者,不為水火焚漂死。
7) They will not drowned or be burned to death.
Không bị chết vì nước trôi lửa cháy.
BÁT GIẢ, BẤT VI ÐỘC DƯỢC SỞ TRÚNG TỬ;
八者,不為毒藥所中死。
8) They will not be poisoned to death.
Không bị chết bởi phạm nhằm
thuốc độc.
CỬU GIẢ, BẤT VI CỔ ÐỘC HẠI TỬ;
九者,不為蠱毒害死。
9) They will not die as a result of sorcery.
Không bị chết do loài sâu trùng độc làm hại.
THẬP GIẢ, BẤT VI CUỒNG LOẠN THẤT NIỆM TỬ;
十者,不為狂亂失念死。
10) They will not die of madness or insanity.
Không bị chết vì điên cuồng mê loạn.
THẬP NHẤT GIẢ, BẤT VI SƠN THỌ NHAI NGẠN ÐỌA LẠC TỬ;
十一者,不為山樹崖岸墜落死。
11) They will not be killed by landslides or falling trees.
Không bị chết do té cây, té xuống núi.
THẬP NHỊ GIẢ, BẤT VI ÁC NHÂN YẾM MỴ TỬ;
十二者,不為惡人厭魅死。
12) They will not die of nightmares sent by evil people.
Không bị chết bởi người ác trù ếm.
THẬP TAM GIẢ, BẤT VI TÀ THẦN ÁC QUỶ ÐẮC TIỆN TỬ;
十三者,不為邪神惡鬼得便死。
13) They will not be killed by deviant spirits or evil ghosts.
Không bị chết bởi tà thần, ác quỷ làm hại.
THẬP TỨ GIẢ, BẤT VI ÁC BỆNH TRIỀN THÂN TỬ;
十四者,不為惡病纏身死。
14) They will not die of evil illnesses which bind the
body.
Không
bị chết vì bịnh ác lâm thân.
THẬP NGŨ GIẢ, BẤT VI PHI PHẬN TỰ HẠI TỬ.
十五者,不為非分自害死。
15) They will not commit suicide.
Không bị chết vì phi mạng tự hại.
TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ GIẢ, BẤT BỊ NHƯ THỊ THẬP NGŨ CHỦNG ÁC
TỬ DÃ, ÐẮC THẬP NGŨ CHỦNG THIỆN SANH GIẢ:
誦持大悲神呪者,不被如是十五種惡死也得十五種善生者:
Those who recite and hold the spiritual Mantra of Great Compassion will not suffer any of these fifteen kinds of bad death and will obtain the following fifteen kinds of good birth:
Tụng trì thần chú Đại Bi,
không bị 15 việc chết xấu như thế.
- Sao gọi là 15 chỗ sanh tốt?
NHẤT GIẢ, SỞ SANH CHI XỨ, THƯỜNG PHÙNG THIỆN VƯƠNG;
一者,所生之處,常逢善王。
1) Their place of birth will always have a good king.
Tùy
theo chỗ sanh, thường gặp đấng Quốc vương hiền lành.
NHỊ GIẢ, THƯỜNG SANH THIỆN QUỐC;
二者,常生善國。
2) They will always be born in a good country.
Tùy theo chỗ sanh, thường ở cõi nước an lành.
TAM GIẢ, THƯỜNG TRỊ HẢO THỜI;
三者,常值好時。
3) They will always be born at a good time.
Tùy theo chỗ sanh, thường gặp thời đại tốt.
TỨ GIẢ, THƯỜNG PHÙNG THIỆN HỮU;
四者,常逢善友。
4) They will always meet good friends.
Tùy theo chỗ sanh, thường gặp bạn lành.
NGŨ GIẢ, THÂN CĂN THƯỜNG ÐẮC CỤ TÚC;
五者,身根常得具足。
5) The organs of their body will always be complete.
Tùy
theo chỗ sanh, thân căn thường được đầy đủ.
LỤC GIẢ, ÐẠO TÂM THUẦN THỤC;
六者,道心純熟。
6) Their heart will be pure and full in the way.
Tùy theo chỗ sanh, đạo tâm
thuần thục.
THẤT GIẢ, BẤT PHẠM CẤM GIỚI;
七者,不犯禁戒。
7) They will not violate the prohibitive precepts.
Tùy theo chỗ sanh, không phạm cấm giới.
BÁT GIẢ, SỞ HỮU QUYẾN THUỘC, ÂN NGHĨA HÒA THUẬN;
八者,所有眷屬,恩義和順
8) Their family will be kind and harmonious.
Tùy theo chỗ sanh, thường được quyến thuộc hòa thuận, có ân nghĩa.
CỬU GIẢ, TƯ CỤ TÀI THỰC, THƯỜNG ÐẮC PHONG TÚC;
九者,資具財食,常得豐足。
9) They will always have the necessary wealth and goods in
abundance.
Tùy theo chỗ sanh, vật dụng,
thức ăn uống thường được đầy đủ.
THẬP GIẢ, HẰNG ÐẮC THA NHÂN CUNG KÍNH PHÙ TIẾP;
十者,恒得他人,恭敬扶接。
10) They will always obtain the respect and help of
others.
Tùy theo chỗ sanh, thường được người cung kính giúp đỡ.
THẬP NHẤT GIẢ, SỞ HỮU TÀI BẢO, VÔ THA KIẾP ÐOẠT;
十一者,所有財寶,無他劫奪
11) Their riches will not be plundered.
Tùy theo chỗ sanh, tiền của
châu báu không bị kẻ khác cướp đoạt.
THẬP NHỊ GIẢ, Ý DỤC SỞ CẦU, GIAI TẤT XƯNG TOẠI;
十二者,意欲所求,皆悉稱遂。
12) They will obtain everything they seek.
Tùy theo chỗ sanh, những việc mong cầu đều được toại nguyện.
THẬP TAM GIẢ, LONG THIÊN THIỆN THẦN HẰNG THƯỜNG ỦNG VỆ;
十三者,龍天善神,恒常擁衛。
13) Dragons, gods, and good spirits will always protect them.
Tùy theo chỗ sanh, Long Thiên, thiện thần thường theo ủng hộ.
THẬP TỨ GIẢ, SỞ SANH CHI XỨ, KIẾN PHẬT VĂN PHÁP;
十四者,所生之處,見佛聞法
14) In the place where they are born, they will see the Buddha and hear the Dharma.
Tùy theo chỗ sanh, thường
được thấy Phật nghe pháp.
THẬP NGŨ GIẢ, SỞ VĂN CHÁNH PHÁP, NGỘ THẬM THÂM NGHĨA.
十五者,所聞正法,悟甚深義。
15) They will awaken to the profound meaning of that Proper Dharma which they hear.
Tùy theo chỗ sanh, khi
nghe chánh pháp ngộ giải nghĩa sâu.
NHƯỢC HỮU TỤNG TRÌ ÐẠI
BI TÂM ÐÀ-LA-NI GIẢ, ÐẮC NHƯ THỊ ÐẲNG THẬP NGŨ CHỦNG THIỆN SANH DÃ, NHẤT THIẾT
THIÊN NHÂN, ƯNG THƯỜNG TỤNG TRÌ, VẬT SANH GIẢI ÐÃI.
若有誦持大悲心陀羅尼者,得如是等十五種善生也。一切天、人應常誦持,勿生懈怠。
Those who recite and hold the Great Compassion Heart
Dharani will obtain these fifteen kinds of good birth. All gods and people
should constantly recite and hold it, without carelessness.
Nếu kẻ nào trì tụng chú Đại
Bi, sẽ được 15 chỗ sanh tốt như thế! Cho nên tất cả hàng trời, người, đều nên
thường tụng trì, chớ sanh lòng biếng trễ".
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT THUYẾT THỊ NGỮ DĨ, Ư CHÚNG HỘI TIỀN, HỢP
CHƯỞNG CHÁNH TRỤ, Ư CHƯ CHÚNG SANH, KHỞI ĐẠI BI TÂM, KHAI NHAN HÀM TIẾU, TỨC
THUYẾT NHƯ THỊ QUẢNG ĐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ-LA-NI THẦN DIỆU CHƯƠNG
CÚ. ĐÀ-LA-NI VIẾT:
觀世音菩薩說是語已,於眾會前,合掌正住,於諸眾生,起大悲心,開顏含笑,即說如是「廣大圓滿無礙大悲心大陀羅尼神妙章句陀羅尼曰:
After speaking these words before the assembly, the
Bodhisattva Who Regards the World’s Sounds put his palms together, stood
upright, and brought forth a heart of great compassion for all beings. He
beamed, smiled and thus spoke the spiritually wonderful phrases of the Dharani
of Great Compassion, perfect, unimpeded, vast, and great. The Dharani runs like
this:
Khi đức Quán Thế Âm Bồ Tát
nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội, chắp tay đứng thẳng, nở mặt mỉm cười,
nói chương cú mầu nhiệm Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni rằng:
1. NAM MÔ HẮC RA ÐÁT NA ÐA RA DẠ DA
南無喝囉怛那哆囉夜耶
NA MÔ RÁT-NA-TRA-DẠ-DA. (NAMO RATNATRAYÀYA)
To take refuge with the limitless triple jewel of the 10 directions
2. NAM MÔ A RỊ DA
南無阿唎耶
NA MÔ A-RỊ-DA. (NAMO ARYA)
To offer up one’s life and respectfully yield to the wise ones, the pure of heart Ariyas
3. BÀ LÔ YẾT ÐẾ THƯỚC BÁC RA DA
婆盧羯帝爍缽囉耶
A-VA-LÔ-KI-TÊ. SOA-VA-RAY-DA. (AVALOKITÉSHAVARAYA)
Contemplative comfort - Avalokitesvara’s ease
4. BỒ ÐỀ TÁT ÐỎA BÀ DA
菩提薩埵婆耶
BÔ-ĐI SÁT-TOA-DA. (BODHISATTVAYA)
The enlightened ones cross over living beings
5. MA HA TÁT ÐỎA BÀ DA
摩訶薩埵婆耶
MA HA SÁT-TOA-DA. (MAHASATTVAYA)
I bow to fearless & vigorous great bodhisattva who bought forth the Bodhi heart
6. MA HA CA LÔ NI CA DA
摩訶迦盧尼迦耶
MA HA KA-RU-NI-KA-DA. (MAHA KARUNIKAYA)
I Bow in worship to the victorious Great Compassion Heart Dharani spirit mantra
7. ÁN
唵
UM! (AUM!)
The Original mother, mantra mother, mother of all the hearts of living beings
8. TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ
薩皤囉罰曳
SA-VẠ-LA-VẠ-TI. (SAVALAVATI)
The master, sagely Buddha jewel
9. SỐ ÐÁT NA ÐÁT TỎA
數怛那怛寫
SUÝT-ĐÀ-NA TÁT SY-A. (SUDHANATASYA)
The Dharma of wonderful, supreme, lofty victory, and the Sangha: to request the protection of the Triple Jewel.
10. NAM MÔ TẤT KIẾT LẬT ÐỎA Y MÔNG A RỊ DA
南無悉吉塛埵伊蒙阿唎耶
NA MA SẤC-CƠ-RÍT-TOA NI-MĂN A-RỊ-DA. (NAMASKRITTVA NIMAN ARYA)
Again and again, completely, I worship the sagely one
11. BÀ LÔ KIẾT ÐẾ THẤT PHẬT RA LĂNG ÐÀ BÀ
婆盧吉帝室佛囉楞馱婆
A-VA-LÔ-KI-TẾT-SOA-VA-RA, LANH-TA-PHA. (AVALOKITÉSHAVARA LANTABHA)
Compassionate loving protection of the Bodhisattva who regards the world’s sounds at Potala Mountain in the Ocean
12. NAM MÔ NA RA CẨN TRÌ
南無那囉謹墀
NA MÔ NI-LA-CANH-THA. (NAMO NILAKANTHA)
I Take refuge in the good protection of the loving worthy one
13. HÊ RỊ MA HA BÀN ÐA SA MẾ
醯唎摩訶皤哆沙咩
SẤC RI MA HẠ PA-TÁT-SA-MÊ. (SRI MAHAPATASHAMI)
Undefiled heart of constantly illuminating brightness
14. TÁT BÀ A THA ÐẬU THÂU BẰNG
薩婆阿他豆輸朋
SẠT-VÁT VA-TÁT SU BĂN. (SARVAD VATASHUBHAM)
All equality, wealth, happiness, majestic and pure, without worries
15. A THỆ DỰNG
阿逝孕
A-SI-DUN. (ASHIYUM)
Incomparable Dharma
16. TÁT BÀ TÁT ÐA, NA MA BÀ TÁT ÐA, NA MA BÀ GIÀ
薩婆薩哆那摩婆薩多那摩婆伽
SẠT-VA SÁT-TOA NA MÔ PA-SÁT-TOA NA MÔ PHẠ GA. (SARVASATTVA NAMO PASATTVA NAMO BHAGA)
Bodhisattva of great body & heart, Bodhisattva knight. Unequalled Buddhas of the ten directions
17. MA PHẠT ÐẠT ÐẬU
摩罰特豆
MA-PHẠ-TÊ-TU. (MABHATETU)
Heavenly relative, worldly friend. Bodhisattvas, please help me accomplish all good dharmas
18. ÐÁT ÐIỆT THA
怛姪他
TÁT-ĐI-DA-THA. (TADYATHA)
The mantra runs like this
19. ÁN! A BÀ LÔ HÊ
唵阿婆盧醯
UM! A-VA-LÔ-KA. (AUM! AVALOKA)
AUM! - The Original mother, mantra mother, mother of all the hearts of living beings, and produces the Dharma-doors which follow it (When you recite it, all ghosts and spirits must place palms together and respectfully listen.) AVALOKA – the bodhisattva who wisely regards the sounds of the world
20. LÔ CA ÐẾ
盧迦帝
LÔ-KA-TÊ. (LOKATE)
The world honored one who resides in comfort
21. CA RA ÐẾ
迦羅帝
KA-LA-TÊ. (KALATI)
The empathetic one, who brings forth the karma of the Way, bringing beings to the Bodhi heart
22. DI HÊ RỊ
夷醯唎
I-SIA-RI. (ISHIRI)
To comply and offer up your conduct in accord with the teaching
23. MA HA BỒ ÐỀ TÁT ÐỎA
摩訶菩提薩埵
MA HẠ BÔ-ĐI-SÁT-TOA. (MAHABODHISATTVA)
Great enlightenment to the Way, of great courage; nourish the bodhisattva seeds
24. TÁT BÀ TÁT BÀ
薩婆薩婆
SA PHÔ, SA PHÔ. (SABHO SABHO)
Precious Seal Hand and Eye: Benefit & happiness to all, eloquent speech karma
25. MA RA MA RA
摩囉摩囉
МА RА, MA RA. (MARA MARA)
As You Will Pearl Hand and Eye: Increases blessings, fosters wisdom; makes all auspicious in accord with your heart, wealth
26. MA HÊ MA HÊ RỊ ÐÀ DỰNG
摩醯摩醯唎馱孕
MA SI, MA SI, RÍCH ĐAY DUM. (MASHI MASHI RIDHAYU)
MASHI MASHI - Five Colored Cloud Hand and Eye: No words, comfort. No sorrows, no worries, without anxieties, the way of immortals – long life
RIDHAYU - Blue Lotus Hand and Eye: Heart of the lotus flower. Fragrance of the blue lotus manifest, for rebirth in pure land
27. CU LÔ CU LÔ KIẾT MÔNG
俱盧俱盧羯蒙
GU-RU, GU-RU, GA-MONG. (GURU GURU GHAMAIN)
GURU GURU - Jeweled Conch Hand and Eye: For manifesting Dharma to be heard everywhere, summoning virtuous spirits, protective boundaries are established, to block strange energies
GHAMAIN - White Lotus Hand and Eye: White lotus. Generating luminous, good karma and merit
28. ÐỘ LÔ ÐỘ LÔ PHẠT XÀ DA ÐẾ
度盧度盧罰闍耶帝
ĐU-RU, ĐU-RU, PHA-SI-DA-TI. (DHURU DHURU BHASHIYATI)
DHURU DHURU - Moon Essence Mani Hand and Eye: Crossing over the sea, bright and pure. For clarity, coolness, overcoming heat, fevers, poisons, averting disaster
BHASHIYATI - Shield Hand and Eye: Vast and adorned, to cross over the bitter sea of birth and death. For safety from dangerous animals
29. MA HA PHẠT XÀ DA ÐẾ
摩訶罰闍耶帝
MA HA PHA-SI-DA-TI. (MAHA BHASHIYATI)
Jeweled Halberd Hand and Eye: Most victorious vast Dharma Way. For warding off invading armies and conquering demons
30. ÐÀ RA ÐÀ RA
陀囉陀囉
ĐÀ RA ĐÀ RA. (DHARA DHARA)
Pure Bottle Hand and Eye: Able to unite, seal, and hold the hearts of all living beings. To sprinkle sweet dew on living beings, to rescue and purify
31. ÐỊA RỊ NI
地唎尼
ĐIA-RI-NI. (DHIRINI)
Iron Hook Hand and Eye: Very courageous, still cessation. To summon good ghosts, dragon kings, and spirits to protect you, constantly surround and help you. Breaking apart karmic obstacles
32. THẤT PHẬT RA DA
室佛囉耶
SOA-VA-RAY-DA. (SHVARAYA)
Sun Essence Mani Hand and Eye: Lightening flash through the universe, to emit light. Comfort, Ishvara – Contemplate first (avalokita) to attain comfort. Comfort comes from contemplation – no comfort no light – Avalokitesvara. To cure sickness in eyes
33. DÁ RA DÁ RA
遮囉遮囉
JÁ LA, JÁ LA. (JÁLA JÁLA)
Jeweled Bell Hand and Eye: Moving into action, clear voice that can resonate like a bell
34. MẠ MẠ PHẠT MA RA
麼麼罰摩囉
MẠ MẠ.... PHẠ MA RA. (MÀMÀ BHÀMARA)
MÀMÀ - White Whisk Hand and Eye: Everything I do will be successful, overcoming obstacles & difficulties, dissolving evil & previous heavy karma
BHÀMARA - Transformation Palace Hand and Eye: Victorious, demon subduing, live in the palace of the Buddha
35. MỤC ÐẾ LỆ
穆帝隸
MUÝT-ĐI-LÊ. (MUDHILI)
Willow Branch Hand and Eye: Liberation. Dipped in pure water sweet dew and sprinkled over living beings, liberation from illnesses, difficulties, sicknesses, inauspicious events
36. Y HÊ DI HÊ
伊醯伊醯
Ê-HY Ê-HY. (EHY EHY)
Skull Bone Staff Hand and Eye: Comply with the teaching, summon gods and good spirits to have what you need done (that is wholesome)
37. THẤT NA THẤT NA
室那室那
SI-NA, SI-NA. (SHINA SHINA)
Jeweled Mirror Hand and Eye: Great wisdom & vast vows, the Buddha’s great perfect mirror wisdom.
38. A RA SÂM PHẬT RA XÁ LỢI
阿囉嘇佛囉舍利
A-LÁCH-SINH-BA-LÁCH-SA-RI. (ALASHINBALASHÁRI)
ALASHIN - Transformation Buddha Hand and Eye: Wheel-turning Dharma King – never being apart from the Buddha
BALASHÁRI - Recitation Beads Hand and Eye: Enlightened body seeds – Buddhas from 10 directions to quickly confer blessing, prediction of attainment and lead out of suffering
39. PHẠT SA PHẠT SÂM
罰娑罰嘇
BA-SA, PHÁT-NINH. (BASHÁ BHASNIN)
Jeweled Bow Hand and Eye: Joyful speech, joyful smiles – for promotions, official positions, hero within the world, attaining to highest fruits of Dharma practice
40. PHẬT RA XÁ DA
佛囉舍耶
PHẠ RA SAY DA. (BHARASHÁYA)
Purple Lotus Hand and Eye: Elephant Dharma enlightened heart – Amitabha Buddha emits light to illumine the one who holds the mantra, for meeting the Buddhas of the 10 directions
41. HÔ LÔ HÔ LÔ MA RA
呼盧呼盧摩囉
HU RU, HU RU MA-RA. (HULU HULU PRA)
Jade Ring Hand and Eye: The Dharma is not apart from me, I am not apart from the Dharma, there is neither Dharma nor me, attachment to self and Dharma are emptied. To cause all beings to accord with wholesome guidance.
42. HÔ LÔ HÔ LÔ HÊ LỴ
呼盧呼盧醯利
HU LU HU LU SẤC-RI. (HULU HULU SHRI)
Jeweled Bowl Hand and Eye: Doing Dharma without thought, to relieve pain and suffering, healing, curing illness (important in practicing the Bodhisattva Way to cultivate a heart without thought and attachment to the four marks of self, others, living beings, and lifespan)
43. TA RA TA RA
娑囉娑囉
SA-RA, SA-RA. (SARA SARA)
Vajra Pestle Hand and Eye: Solid power, which nothing can harm, fierceness, conquering all hateful demons, enemies, spirits. Protects the Dharma
44. TẤT RỊ TẤT RỊ
悉唎悉唎
SI-RI, SI-RI. (SIRI SIRI)
Joined Palms Hand and Eye: Resolute (as in war), only victorious, causing living beings to be respectful and kind toward each other
45. TÔ RÔ TÔ RÔ
蘇嚧蘇嚧
SU-RU, SU-RU. (SURU SURU)
Sweet Dew Hand and Eye: Sweet dew causing hungry ghosts to be full, brings auspiciousness, medicine of immortality
46. BỒ ÐỀ DẠ BỒ ÐỀ DẠ
菩提夜菩提夜
BUÝT-ĐẠ-DA, BUÝT-ĐẠ-DA. (BUDDHÀYA BUDDHÀYA)
Gold Wheel Hand and Eye: Enlightened Way, Enlightened Heart, to never retreat from the Bodhi heart; the heart will never retreat
47. BỒ ÐÀ DẠ BỒ ÐÀ DẠ
菩馱夜菩馱夜
BỐT-ĐẠ-DA, BỐT-ĐẠ-DA. (BODHÀYA BODHÀYA)
Transformation Buddha Atop the Crown Hand and Eye: Knowing One, Enlightened One, cultivate to be one of genuine wisdom. Buddhas confer assurance of Buddhahood in response to your cultivation, not being attached to good or bad states, remaining unmoved, samadhi power, thus.
48. DI ÐẾ RỊ DẠ
彌帝利夜
MÉT-TRI-DÊ. (MAITRIYÉ)
Tin Staff Hand and Eye: Great compassion heart that has no boundaries, protects and leads living beings to happiness, to return to the origin, avoiding all fear and calamities. To rescue and protect all living beings.
49. NA RA CẨN TRÌ
那囉謹墀
NI-LA KANH SÍT-TA. (NILAKANSTA)
Jeweled Vase Hand and Eye: (lines 49,60 and 61) Loving protection, able to help living beings and prevent hardships and disasters, expunging the world’s toxic energy, mindful of living beings, enabling harmonious retinues
50. ÐỊA RỊ SẮC NI NA
地利瑟尼那
TRI-SA RA-NA. (TRISA RANA)
Jeweled Sword Hand and Eye: Solid and sharp sword, fierce energy for subduing and taming discordant, demonic energies
51. BA DẠ MA NA
婆夜摩那
PHẠ-DA-MA-NÊ. (BHAYA MANE)
Jeweled Arrow Hand and Eye: The name is heard, joyful praise, accomplishing all meaning, to quickly meet up with good friends and accomplish all duties
52. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
53. TẤT ÐÀ DẠ
悉陀夜
SI-TAY-DA. (SITAYA)
Jeweled Sutra Hand and Eye: (lines 53,54,55, and 56) Accomplishment, sudden auspiciousness, done, perfecting benefit, accomplishing all meaning, praising that which is venerable
54. TA BÀ HA
娑婆訶
SOÁ HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
55. MA HA TẤT ÐÀ DẠ
摩訶悉陀夜
MA HA SI-TAY-DA. (MAHA SITAYA)
Dharma treasure, learning & extensive study, strong memory & wisdom, inexhaustible, endless benefit
56. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
57. TẤT ÐÀ DU NGHỆ
悉陀喻藝
SI-TAY-DA-DÊ. (SITAYAYE)
Jeweled Chest Hand and Eye: (lines 57,58 and 59) Accomplishing benefit through non-activity, empty space. To uncover hidden treasures within the earth and use them to benefit living beings
58. THẤT BÀN RA DẠ
室皤囉耶
SOA-VA-RAY-DA. (SHVARAYA)
Comfort. The principal substance of your self-nature has gained comfort and accomplished all benefits
59. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
60. NA RA CẨN TRÌ
那囉謹墀
NI-LA-KANH-THI. (NILAKANTHI)
Able to help living beings prevent hardships and disasters, expunging the world’s toxic energy, mindful of living beings, enabling harmonious retinues
61. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
62. MA RA NA RA
摩囉那囉
BƠ-RA NI-LA. (PRANILA)
Lariat Hand and Eye: (lines 62 and 63) As-you-will, highly venerated, to bring peace and tranquility to troubled circumstances, tie up demonic energies so they have to surrender.
63. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
64. TẤT RA TĂNG A MỤC KHÊ DA
悉囉僧阿穆佉耶
SẤC-RI SIM-HA MÚC-KHAY-DA. (SHRISINHAMUKHAYA)
Jeweled Ax Hand and Eye: (lines 64 and 65) Accomplishment, loving protection, harmoniously united, and not rejecting. To avoid trouble with the law and legal problems. Comfortably accomplishing all merit and virtue
65. TA BA HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
66. TA BÀ MA HA A TẤT ÐÀ DẠ
娑婆 摩訶 阿悉陀夜
SẠT-RÁT-VA, MA-HA ÁT-TAY-DA. (SARVA MAHA ASTAYA)
SARVA - The Saha world – worthy of being endured – and MAHA - Great Vehicle Dharma. Grape Hand and Eye: ASTAYA.SVAHA(line 67) Unlimited Accomplishment. Sweet taste of the Dharma as a response, For planting fruits, grains, and vegetables successfully. Whole line represents the original body of Medicine Superior Bodhisattva who cures illnesses
67. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
68. GIẢ KIẾT RA A TẤT ÐÀ DẠ
者吉囉 阿悉陀夜
SẤC CỜ-RA, ÁT-TAY-DA. (CHAKRA ASTAYA)
Vajra Hand and Eye: (lines 68 and 69) Vajra wheel, conquering hateful demons. Taming all demons and subduing their violence
69. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
70. BÀ ÐÀ MA YẾT TẤT ÐÀ DẠ
波陀摩羯悉陀夜
PÁT-MA-KẾT SẤC-TAY-DA. (PADMAKÉSTAYA)
Red Lotus Hand and Eye: (lines 70 and 71) Red lotus and good victory. To bring about all accomplishment and be reborn in the heavens if you wish.
71. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
72. NA RA CẨN TRÌ BÀN ÐÀ RA DẠ
那囉謹墀皤伽囉耶
NI-LA-KANH-TÊ BANH-TA-LAY-DA. (NILAKANTÉ PANTALAYA)
Bestowing Fearlessness Hand and Eye: (lines 72 and 73) Worthy protection and regarding in comfort (listening to the sounds of the world at ease). Protection in all situations of fear and unrest. Kuan Yin uses this hand and eye to rescue all living beings, so that they are never afraid in any situation.
73. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
74. MA BÀ LỴ THẮNG YẾT RA DẠ
摩婆利勝羯囉夜
MÔ-PHÔ-LI-SANH, KA-RAY-DA.
(MOPHOLISHAN KARAYA)
The Uniting and Holding Thousand Arms Hand and Eye: (lines 74 and 75) Great Bravery. The original nature of living beings has the virtuous practice of great heroes conquering all unwholesome and demonic energies. Cultivating this hand and eye, all other 42 hands and eyes are within it
75. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
76. NAM MÔ HẮT RA ÐÁT NA ÐA RA DẠ DA
南無喝囉怛那哆囉夜耶
NA MÔ RÁT-NA-TRAY-DẠ-DA. (NAMO RATNATRAYAYA)
To take refuge with the limitless triple jewel of the 10 directions
77. NAM MÔ A RỊ DA
南無阿利耶
NA MÔ A-RI-DA. (NAMO ARYA)
To offer up one’s life and respectfully yield to the wise ones, the pure of heart Ariyas
78. BÀ LÔ YẾT ÐẾ
婆嚧吉帝
A-VA-LÔ-KI-TÊ.
(AVALOKITÉ)
To contemplate or regard. Contemplative Comfort – Avalokitesvara’s contemplative ease
79. THƯỚC BÀNG RA DẠ
爍皤囉夜
SOA-VA-RAY-DA. (SHAVARAYA)
(lines 78 and 79 refer to Kuan Yin Bodhisattva) Comfort – Avalokitesvara’s ease
80. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA HA. (SVAHA)
Accomplishment, auspicious, completely still, eliminating disasters, augmenting benefit, and non-dwelling – when giving rise to a thought, it does not abide anywhere. Nothing done, yet nothing undone.
81. ÁN! TẤT ÐIỆN ÐÔ
唵悉殿都
UM! SÍT-ĐI-DANH-TU. (AUM! SIDDHYANTU)
AUM! - The Original mother, mantra mother, mother of all the hearts of living beings. SIDDHYANTU - Accomplishment in my realm is realized, all merit & virtue
82. MẠNG ÐA RA
漫多囉
MANH-TRA. (MANTRA)
83. BẠT ÐÀ DẠ
跋陀耶
PA-TAY-DA. (PATAYA)
Complete and full according to your heart
84. TA BÀ HA
娑婆訶
SÓA-HA. (SVAHA)
All wishes accomplished
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT THUYẾT THỬ CHÚ DĨ, ĐẠI ĐỊA LỤC BIẾN CHẤN
ĐỘNG, THIÊN VŨ BẢO HOA, TÂN PHÂN NHI HẠ. THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT, TẤT GIAI HOAN HỶ.
THIÊN MA NGOẠI ĐẠO, KHỦNG BỐ MAO THỤ. NHẤT THIẾT CHÚNG HỘI, GIAI HOẠCH QUẢ CHỨNG:
HOẶC ĐẮC TU-ĐÀ-HOÀN QUẢ, HOẶC ĐẮC TƯ-ĐÀ-HÀM QUẢ, HOẶC ĐẮC A-NA-HÀM QUẢ, HOẶC ĐẮC
A-LA-HÁN QUẢ, HOẶC ĐẮC NHẤT ĐỊA, NHỊ ĐỊA, TAM ĐỊA, TỨ ĐỊA, NGŨ ĐỊA, NÃI CHÍ THẬP
ĐỊA GIẢ. VÔ LƯỢNG CHÚNG SANH PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM.
觀世音菩薩說此呪已。大地六變震動,天雨寶華,繽紛而下。十方諸佛悉皆歡喜,天魔外道恐怖毛竪,一切眾會皆獲果證。或得須陀洹果,或得斯陀含果,或得阿那含果,或得阿羅漢果者,或得一地、二地、三地、四地、五地,乃至十地者。無量眾生發菩提心。
When the Bodhisattva Who Regards the World’s Sounds had finished speaking this Mantra, the great earth trembled and moved in six ways. The heavens rained forth Jewelled flowers, which fell in colorful profusion. All the Buddhas of the ten directions were delighted, while the heavenly demons and externalists were so afraid their hair stood on end. Everyone in the entire assembly certified to the result. Some won the result of a stream-winner, some won the result of a once-returner, some won the result of a never-returner, some won the result of an Arhat. Others attained to the first ground of a Bodhisattva, the second, third, fourth and fifth ground, even up to the tenth Bodhisattva ground. Countless living beings brought forth the Bodhi heart.
Bồ tát thuyết chú xong,
cõi đất sáu phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác, mười phương chư
Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc. Tất cả chúng hội đều
được quả chứng. Hoặc có vị chứng quả Tu đà hoàn, có vị chứng quả Tư đà hoàn, hoặc
có vị chứng quả A na hàm (30),
có vị chứng quả A la hán, hoặc có vị chứng được sơ địa, nhị địa, tam địa, tứ địa,
ngũ địa cho đến thập địa, vô lượng chúng sanh phát lòng Bồ đề.
NHĨ THỜI, ĐẠI PHẠM THIÊN VƯƠNG TÙNG TÒA NHI KHỞI, CHỈNH
LÝ Y PHỤC, HỢP CHƯỞNG CUNG KÍNH, BẠCH QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT NGÔN: “THIỆN TAI, ĐẠI
SĨ! NGÃ TÙNG TÍCH LAI, KINH VÔ LƯỢNG PHẬT HỘI, VĂN CHỦNG CHỦNG PHÁP, CHỦNG CHỦNG
ĐÀ-LA-NI, VỊ TẰNG VĂN THUYẾT NHƯ THỬ VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐẠI BI ĐÀ-LA-NI THẦN DIỆU
CHƯƠNG CÚ. DUY NGUYỆN ĐẠI SĨ, VI NGÃ THUYẾT THỬ ĐÀ-LA-NI HÌNH MẠO TRẠNG TƯỚNG,
NGÃ ĐẲNG ĐẠI CHÚNG, NGUYỆN NHẠO DỤC VĂN."
爾時,大梵天王,從座而起,整理衣服,合掌恭敬,白觀世音菩薩言:「善哉!大士!我從昔來,經無量佛會,聞種種法、種種陀羅尼,未曾聞說,如此無礙大悲心、大悲陀羅尼神妙章句。唯願大士,為我說此陀羅尼形貌狀相,我等大眾,願樂欲聞!
At that time the Great Brahma
Heaven King arose from his seat, arranged his robes, reverently joined his
palms, and spoke to the Bodhisattva who Regards the World’s Sounds,
saying, “Good indeed, Mahasattva. I have, in the past, attended countless
Buddha-assemblies and heard various dharmas and Dharanis, but I have never
before heard one like this Unimpeded Great Compassion Dharani with its
spiritually wonderful phrases. I pray that the Mahasattva will speak to us
about the style and appearance of this Dharani. The great assembly and I
joyfully wish to hear.
Khi ấy Đại Phạm Thiên
vương từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục nghiêm chỉnh, chắp tay cung kính bạch với
đức Quán Thế Âm bồ tát rằng: "Lành thay đại sĩ! Từ trước đến nay, tôi đã
trải qua vô lượng Phật hội, nghe nhiều pháp yếu, nhiều môn đà ra ni, song chưa
từng nghe nói chương cú thần diệu Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni này. Cúi xin đại
sĩ vì tôi, nói hình trạng tướng mạo của đà ra ni ấy. Tôi và đại chúng đều ưa
thích muốn nghe".
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT CÁO PHẠM VƯƠNG NGÔN: “NHỮ VI PHƯƠNG TIỆN
LỢI ÍCH NHẤT THIẾT CHÚNG SANH CỐ, TÁC NHƯ THỊ VẤN, NHỮ KIM THIỆN THÍNH, NGÔ VI
NHỮ ĐẲNG, LƯỢC THUYẾT THIỂU NHĨ.”
觀世音菩薩告梵王言:「汝為方便利益一切眾生故,作如是問。汝今善聽,吾為汝等,略說少耳!」
The Bodhisattva Who Regards the World’s Sounds told Brahma King, “Because you ask for the purpose of efficaciously benefiting all living beings, I will now speak of it in general. Listen attentively and well.”
Quán Thế Âm Bồ tát bảo Phạm
vương: "Ông vì phương tiện lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên hỏi như thế,
nay ông khéo nghe, tôi sẽ vì ông mà nói lược qua.
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT NGÔN:
“ĐẠI TỪ BI TÂM THỊ, BÌNH ĐẲNG TÂM THỊ, VÔ VI TÂM THỊ, VÔ NHIỄM TRƯỚC TÂM THỊ,
KHÔNG QUÁN TÂM THỊ, CUNG KÍNH TÂM THỊ, TỲ HẠ TÂM THỊ, VÔ TẠP LOẠN TÂM THỊ, VÔ
KIẾN THỦ TÂM THỊ, VÔ THƯỢNG BỒ-ĐỀ TÂM THỊ. ĐƯƠNG TRI NHƯ THỊ ĐẲNG TÂM, TỨC THỊ
ĐÀ-LA-NI TƯỚNG MẠO, NHỮ ĐƯƠNG Y THỬ NHI TU HÀNH CHI!”
觀世音菩薩言:「大慈悲心是,平等心是,無為心是,無染著心是,空觀心是,恭敬心是,卑下心是,無雜亂心,無見取心是,無上菩提心是。當知如是等心,即是陀羅尼相貌。汝當依此而修行之。」
The Bodhisattva Who Regards the World’s Sounds said, “It is THE GREAT COMPASSION Heart. It is THE EQUALITY Heart. It is THE UNCONDITIONED Heart. It is THE UNDEFILED AND UNATTACHED Heart. It is THE CONTEMPLATION OF EMPTINESS Heart. It is THE RESPECTFUL Heart. It is THE HUMBLE Heart. It is THE UNCONFUSED Heart. It is THE NO-VIEW AND NO GRASPING Heart. It is THE UNSURPASSED BODHI Heart. You should know that the style and appearance of the Dharani are just such hearts as these. Cultivate according to them.”
Này Phạm vương! Những tâm
đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm chẳng nhiễm trước, tâm không quán, tâm
cung kính, tâm khiêm nhường, tâm không tạp loạn, tâm không chấp giữ, tâm vô thượng
Bồ Đề, nên biết các thứ tâm này đều là tướng mạo của môn đà ra ni này. Vậy, ông
nên y theo đó mà tu hành".
ĐẠI PHẠM VƯƠNG NGÔN:
“NGÃ ĐẲNG ĐẠI CHÚNG, KIM THỦY THỨC THỬ ĐÀ-LA-NI TƯỚNG MẠO, TÙNG KIM THỌ TRÌ,
BẤT CẢM VONG THẤT.”
大梵王言:「我等大眾,今始識此陀羅尼相貌。從今受持,不敢忘失。」
The Great Brahma King said, “The Great Assembly and I now recognize the appearance of this Dharani and from now onwards will receive and hold it, never daring to forget it.”
Phạm vương thưa: "Tôi
và đại chúng hôm nay mới hân hạnh được biết tướng mạo của môn đà ra ni này, từ
đây chúng tôi xin thọ trì chẳng dám lãng quên".
QUÁN THẾ ÂM NGÔN: “NHƯỢC THIỆN NAM TỬ, THIỆN NỮ NHÂN, TỤNG
TRÌ THỬ THẦN CHÚ GIẢ, PHÁT QUẢNG ĐẠI BỒ-ĐỀ TÂM THỆ ĐỘ NHẤT THIẾT CHÚNG SANH,
THÂN TRÌ TRAI GIỚI, Ư CHƯ CHÚNG SANH KHỞI BÌNH ĐẲNG TÂM, THƯỜNG TỤNG THỬ CHÚ MẠC
LỆNH ĐOẠN TUYỆT, TRÚ Ư TỊNH THẤT, THÁO DỤC THANH TỊNH, TRƯỚC TỊNH Y PHỤC, HUYỀN
PHAN NHIÊN ĐĂNG, HƯƠNG HOA BÁCH VỊ ẨM THỰC DĨ DỤNG CÚNG DƯỜNG, CHẾ TÂM NHẤT XỨ
CÁNH MẠC DỊ DUYÊN, NHƯ PHÁP TỤNG TRÌ.”
觀世音言:「若善男子、善女人,誦持此神呪者,發廣大菩提心,誓度一切眾生。身持齋戒,於諸眾生,起平等心。常誦此呪,莫令斷絕。住於淨室,澡浴清淨,著淨衣服。懸旛、然燈、香華、百味飲食,以用供養。制心一處,更莫異緣,如法誦持。」
The Bodhisattva Who Regards the World’s Sounds said, “If a good man or good woman recites and holds this spiritual mantra, they should bring forth a great and vast Bodhi heart, vowing to take all beings across. They should personally observe the precepts and the rules of pure eating, and, with respect to all beings, they should give rise to a heart of equality, reciting the mantra constantly, without interruption. Having bathed and put on clean clothing, they should dwell in a clean room. There they should hang banners, light lamps, and make offerings of incense, flowers, and a hundred flavors of food and drink. They should regulate their minds to one point, with no other conditions, and recite and hold the mantra in accord with Dharma.”
Bồ tát lại nói tiếp:
"Nếu kẻ thiện nam, thiện nữ nào tụng trì thần chú này, phải phát tâm Bồ Đề
rộng lớn, thề độ tất cả muôn loài, giữ gìn trai giới, đối với chúng sanh khởi
lòng bình đẳng, và thường nên trì tụng chớ cho gián đoạn. Lại nên ở nơi tịnh thất,
tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch, treo phan, đốt đèn, dùng hương hoa, cùng các
thứ ăn uống để cúng dường, buộc tâm một chỗ, chớ nghĩ chi khác, y như pháp mà tụng
trì.
“THỊ THỜI ĐƯƠNG HỮU NHẬT QUANG BỒ-TÁT, NGUYỆT QUANG BỒ-TÁT,
DỮ VÔ LƯỢNG THẦN TIÊN, LAI VI TÁC CHỨNG ÍCH KỲ HIỆU NGHIỆM. NGÃ THỜI ĐƯƠNG DĨ THIÊN
NHÃN CHIẾU KIẾN THIÊN THỦ HỘ TRÌ, TÙNG THỊ DĨ VÃNG SỞ HỮU THẾ GIAN KINH THƯ TẤT
NĂNG THỌ TRÌ, NHẤT THIẾT NGOẠI ĐẠO PHÁP THUẬT, PHỆ-ĐÀ ĐIỂN TỊCH, DIỆC NĂNG
THÔNG ĐẠT.”
「是時當有,日光菩薩、月光菩薩與無量神仙,來為作證,益其効驗。我時當以千眼照見,千手護持。從是以往,所有世間經書,悉能受持;一切外道法術、韋陀典籍,亦能通達。」
“At that time Sunlight Bodhisattva and Moonlight Bodhisattva, along with numberless spirits and immortals, will come to certify and to increase the efficacy of the recitation. At that time, with a thousand eyes, I will illumine them and, with a thousand hands, protect and support them. From then on, they will be able to master all worldly literature and shall fully comprehend all externalist dharma devices as well as the Vedic classics.”
Lúc ấy, sẽ có Nhựt Quang Bồ
Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát cùng vô lượng thần tiên đến chứng minh, giúp thêm sự
hiệu nghiệm. Bấy giờ ta cũng dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay nâng đỡ, khiến
cho kẻ ấy từ đó về sau có thể hiểu suốt tất cả sách vở thế gian, thông đạt các
điển tịch Vi Đà (31) và
tất cả pháp thuật ngoại đạo.
TỤNG TRÌ THỬ THẦN CHÚ GIẢ, THẾ GIAN BÁT VẠN TỨ THIÊN CHỦNG
BỆNH TẤT GIAI TRỊ CHI, VÔ BẤT SI GIẢ; DIỆC NĂNG SỬ LỆNH NHẤT THIẾT QUỶ THẦN,
HÀNG CHƯ THIÊN MA, CHẾ CHƯ NGOẠI ĐẠO. NHƯỢC TẠI SƠN DÃ, TỤNG KINH TỌA THIỀN, HỮU
CHƯ SƠN TINH TẠP MỊ VỌNG LƯỢNG QUỶ THẦN, HOẠNH TƯƠNG NÃO LOẠN, TÂM BẤT AN ĐỊNH
GIẢ, TỤNG THỬ CHÚ NHẤT BIẾN, THỊ CHƯ QUỶ THẦN TẤT GIAI BỊ PHƯỢC DÃ.
誦持此神呪者,世間八萬四千種病,悉皆治之,無不差者。亦能使令一切鬼神,降諸天魔,制諸外道。若在山野,誦經坐禪,有諸山精、雜魅、魍魎、鬼神,橫相惱亂,心不安定者,誦此呪一遍,是諸鬼神,悉皆被縛也。
One who recites and holds the spiritual mantra will be cured of all of the world’s eighty-four thousand kinds of illnesses, without exception. They will also be able to command ghosts and spirits, to subdue heavenly demons and regulate externalists. If they are in the mountain wilds reciting Sutras or sitting in Dhyana meditation, and various mountain essences, LI MEI and WANG LIANG ghosts or other ghosts or spirits come to annoy and disturb them and upset their concentration, they should recite this mantra once and all the ghosts and spirits will be tied up.
Chúng sanh nào tụng trì thần
chú này, có thể trị lành tám muôn bốn ngàn thứ bịnh ở thế gian, hàng phục các
thiên ma, ngoại đạo, sai khiến được tất cả quỷ thần. Những kẻ tụng kinh tọa thiền
ở nơi non sâu, đồng vắng, bị sơn tinh, tạp mị, các quỉ vọng lượng làm não loạn
phá hoại, khiến cho tâm không an định, chỉ cần tụng chú này một biến, các quỉ
thần ấy thảy đều bị trói.
“NHƯỢC NĂNG NHƯ PHÁP TỤNG TRÌ, Ư CHƯ CHÚNG SANH, KHỞI TỪ
BI TÂM GIẢ, NGÃ THỜI ĐƯƠNG SẮC NHẤT THIẾT THIỆN THẦN, LONG VƯƠNG, KIM CANG MẬT
TÍCH, THƯỜNG TÙY VỆ HỘ, BẤT LY KỲ TRẮC, NHƯ HỘ NHÃN TINH, NHƯ HỘ KỶ MẠNG.”
「若能如法誦持,於諸眾生,起慈悲心者,我時當勅一切善神、龍王、金剛密迹,常隨衛護,不離其側,如護眼睛,如護已命。」
“If they are able to recite and hold the mantra in accord with Dharma, and to bring forth a compassionate heart towards all beings, I will then command all good spirits, dragon kings, and the vajra secret traces Dharma protectors to always protect them, never leaving their side, guarding them as their own eyes, as their own life.”
Nếu hành giả có thể tụng
trì đúng pháp, khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh, lúc ấy ta sẽ sắc cho tất
cả thiện thần, Long vương, Kim cang mật tích thường theo ủng hộ, không rời bên
mình, như giữ gìn tròng con mắt hoặc thân mạng của chính họ".
THUYẾT KỆ SẮC VIẾT:
說偈勅曰:
Tiếp đó, Bồ Tát liền đọc lời
kệ sắc lệnh rằng:
我遣密跡金剛士,
烏芻君荼鴦俱尸,
I COMMAND THE SECRET TRACE VAJRA
KNIGHTS UCCHUSHMA, KUNDALIN, ANGUSHA ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND
HOLD.
Ta sai Mật Tích, Kim Cang
Sĩ, (32)
Ô Sô Quân Ðồ Ương Câu
thi, (33)
BÁT BỘ LỰC SĨ THƯỞNG CA LA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
常當擁護受持者。
I COMMAND THE POWER-KNIGHTS OF THE EIGHT DIVISIONS SHANKARA
ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Bát bộ lực sĩ, Thưởng Ca
la, (34)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN MA HÊ NA LA DIÊN,
KIM TỲ LA ĐÀ CA TỲ LA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣摩醯那羅延,
金剛羅陀迦毘羅,
常當擁護受持者。
I COMMAND MAHESHVARA-NARAYANA, KUMBHIRA, KAPILA
ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND
HOLD.
Ta sai Ma Hê Na La
Diên, (35)
Kim Tỳ La Đà Ca Tỳ
La, (36)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN BÀ CẤP TA LÂU LA,
MÃN THIỆN XA BÁT CHÂN ĐÀ LA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣婆馺娑樓羅,
滿善車鉢真陀羅,
常當擁護受持者。
I COMMAND PAJIS, SAHASSAKKHAS, FULL WORTHY, CHEBUDS, KIMNARAS,
ALWAYS TO PROTECT
THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Bà Cấp Ta Lâu
La, (37)
Mãn Thiện Xa Bát Chân Đà
La, (38)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN TÁT GIÁ MA HÒA LA,
CƯU LAN, ĐAN TRA, BÁN CHỈ LA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣薩遮摩和羅,
鳩闌單吒半祇羅,
常當擁護受持者。
I COMMAND SAJAMAHORAS, KUMBHANDAS, KATABHUTANAS, AND BANJRAS
ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND
HOLD.
Ta sai Tát Giá Ma Hòa
La, (39)
Cưu La Đơn Tra Bán Chỉ
La, (40)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN TẤT BÀ GIÀ LA VƯƠNG,
ƯNG ĐỨC TỲ ĐA TÁT HÒA LA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.”
我遣畢婆伽羅王,
應德毘多薩和羅,
常當擁護受持者。
I COMMAND BHIPAGARA KING, RESPONSIVE VIRTUE, VITASAHARAS
ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Tất Bà Dà La
Vương, (41)
Ưng Đức Tỳ La Tát Hòa
La, (42)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN PHẠM MA TAM BÁT LA,
NGŨ BỘ TỊNH CƯ DIÊM MA LA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣梵摩三鉢羅,
五部淨居炎摩羅,
常當擁護受持者。
I COMMAND BRAHMA-SAHAMPATI, THE FIVE DIVISIONS OF PURE DWELLINGS' YAMARAJAS ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Phạm Ma Tam Bát
La, (43)
Ngũ Bộ Tịnh Cư Diêm Ma
La, (44)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN THÍCH VƯƠNG TAM THẬP TAM,
ĐẠI BIỆN CÔNG ĐỨC BÀ ĐÁT NA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣釋王三十三,
大辯功德婆怛那,
常當擁護受持者。
I COMMAND KIND SHAKRA OF
THE THIRTY-THREE, VARDHANA OF GREAT ELOQUENCE AND VIRTUE ALWAYS TO PROTECT
THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Thích Vương Tam Thập
Tam, (45)
Đại Biện Công Đức Bà Đát
Na, (46)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN ĐỀ ĐẦU LẠI TRA VƯƠNG,
THẦN MẪU NỮ ĐẲNG ĐẠI LỰC CHÚNG,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣提頭賴吒王,
神母女等大力眾,
常當擁護受持者。
I COMMAND KING DHRITARASHTRA, THE SPIRIT MOTHER, AND THE GREAT POWERFUL HORDES ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Đề Đầu Lại Tra
Vương,
Các thần Mẫu nữ, chúng Đại
Lực, (47)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN TỲ LÂU LẶC XOA VƯƠNG,
TỲ LÂU BÁC XOA TỲ SA MÔN.
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣毘樓勒叉王,
毘樓博叉毘沙門,
常當擁護受持者。
Ta sai Tỳ Lâu Lặc Xoa
Vương, (48)
Tỳ Lâu Bác Xoa, Tỳ Sa
Môn, (49)
NGÃ KHIỂN KIM SẮC KHỔNG TƯỚC VƯƠNG,
NHỊ THẬP BÁT BỘ ĐẠI TIÊN CHÚNG,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣金色孔雀王,
二十八部大仙眾,
常當擁護受持者。
I COMMAND THE GOLDEN
PEACOCK KING, THE ASSEMBLY OF GREAT IMMORTALS IN THE TWENTY-EIGHT DIVISIONS,
ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Kim Sắc Khổng Tước
Vương, (50)
Hai mươi tám bộ Ðại tiên
chúng,
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN MA-NI BẠT ĐÀ LA,
TÁN CHI ĐẠI TƯỚNG PHẤT LA BÀ,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣摩尼跋陀羅,
散支大將弗羅婆,
常當擁護受持者。
I COMMAND MANIBHADRA, THE
GREAT GENERAL THE SCATTER-BRANCH, PHALAVA ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Ma Ni Bạt Đà
La, (51)
Táng Chi đại tướng, Phất
La Bà, (52)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN NAN ĐÀ, BẠT NAN ĐÀ,
BÀ GIÀ LA LONG Y BÁT LA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣難陀跋難陀,
婆伽羅龍伊鉢羅,
常當擁護受持者。
I COMMAND
NANDA AND UPANANDA, DRAGONS SAGARA AND ERAPATTRA ALWAYS TO
PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Nan Đà, Bạt Nan
Đà, (53)
Bà Dà La Long, Y Bát
La, (54)
Thường theo ủng hộ bên hành
giả.
NGÃ KHIỂN TU LA, CÀN THÁT BÀ,
CA LÂU, KHẨN NA, MA HẦU LA,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.
我遣脩羅乾闥婆,
迦樓緊那摩睺羅,
常當擁護受持者。
I COMMAND THE ASURAS, GANDHARVAS, GARUDAS, KINNARAS,
AND MAHORAGAS ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD.
Ta sai Tu La, Càn Thát Bà,
Ca Lâu, Khẩn Na, Ma Hầu
La,
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
NGÃ KHIỂN THỦY HỎA LÔI ĐIỆN THẦN,
CƯU BÀN TRÀ VƯƠNG, TỲ XÁ XÀ,
THƯỜNG ĐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.”
我遣水火雷電神,
鳩槃荼王毘舍闍,
常當擁護受持者。
I COMMAND THE SPIRITS OF WATER, FIRE, LIGHTNING, AND
THUNDER, THE KUMBHANDA KING AND PISHACAS ALWAYS TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND
HOLD.
Ta sai thủy, hỏa, lôi, điển
thần,
Cưu Bàn Trà vương, Tỳ Xá
Xà, (55)
Thường theo ủng hộ bên
hành giả.
THỊ CHƯ THIỆN THẦN, CẬP THẦN LONG VƯƠNG, THẦN MẪU NỮ ĐẲNG,
CÁC HỮU NGŨ BÁCH QUYẾN THUỘC ĐẠI LỰC DẠ XOA, THƯỜNG TÙY ỦNG HỘ TỤNG TRÌ ĐẠI BI
THẦN CHÚ GIẢ.
是諸善神及神龍王、神母女等,各有五百眷屬,大力夜叉,常隨擁護,誦持大悲神呪者。
ALL THESE GOOD SPIRITS,
SPIRIT AND DRAGON KINGS, THE SPIRIT MOTHER, AND SO FORTH, HAVE A RETINUE OF
FIVE HUNDRED POWERFUL YAKSHAS WHO CONSTANTLY ACCOMPANY AND PROTECT THOSE WHO
RECITE THE SPIRITUAL MANTRA OF GREAT COMPASSION.
Các vị thiện thần này cùng
thần Long vương, thần Mẫu Nữ đều có 500 Ðại lực dạ xoa làm quyến thuộc, thường
theo ủng hộ người thọ trì thần chú Đại Bi.
KỲ NHÂN NHƯỢC TẠI KHÔNG SƠN KHOÁNG DÃ, ĐỘC TÚC CÔ MIÊN, THỊ CHƯ THIỆN THẦN, PHIÊN ĐẠI TÚC VỆ, TÍCH TRỪ TAI CHƯỚNG. NHƯỢC TẠI THÂM SƠN, MÊ THẤT ĐẠO LỘ, TỤNG THỬ CHÚ CỐ, THIỆN THẦN LONG VƯƠNG, HÓA TÁC THIỆN NHÂN THỊ KỲ CHÁNH ĐẠO. NHƯỢC TẠI SƠN LÂM KHOÁNG DÃ, PHẠT THIỂU THỦY HỎA, LONG VƯƠNG HỘ CỐ, HÓA XUẤT THỦY HỎA.
其人若在空山、曠野,獨宿孤眠,是諸善神,番代宿衛,辟除災障。若在深山,迷失道路,誦此呪故,善神龍王,化作善人,示其正道。若在山林、曠野,乏少水火,龍王護故,化出水火。
IF A RECITER OF THE MANTRA
IS STAYING ALONE IN THE UNINHABITED MOUNTAINS OR WILDS, THESE GOOD SPIRITS WILL
TAKE TURNS WATCHING OVER HIM AND WILL WARD OFF ADVERSITY. IF ONE HAS LOST ONE'S
WAY DEEP IN THE MOUNTAIS AND IF ONE RECITES THIS MANTRA, THE GOOD SPIRITS AND
DRAGON KINGS WILL TRANSFORM THEMSELVES INTO GOOD PEOPLE WHO WILL POINT OUT THE
RIGHT ROAD. IF, IN THE MOUNTAIN FORESTS OR IN THE WILDERNESS, ONE IS IN MANT OF
WATER OR FIRE, WATER AND FIRE WILL APPEAR BY TRANSFORMATION BECAUSE OF THE
PROTECTION OF THE DRAGON KINGS.
Nếu người đó ở nơi núi
hoang, đồng vắng, ngủ nghỉ một mình, các vị thiện thần ấy thay phiên nhau canh
giữ không cho tai ương, chướng nạn phạm đến thân. Nếu hành giả đi trong núi
sâu, lạc mất đường về, tụng trì chú này, thiện thần, Long vương hóa làm người
lành chỉ dẫn lối. Như hành giả trụ nơi núi rừng, đồng vắng, thiếu thốn nước lửa,
Long thần vì ủng hộ, hóa ra nước, lửa".
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỤC VỊ TỤNG TRÌ GIẢ, THUYẾT TIÊU TRỪ TAI HỌA THANH LƯƠNG CHI KỆ:
觀世音菩薩復為誦持者,說消除災禍,清涼之偈:
THE BODHISATTVA WHO REGARDS THE WORLD’S SOUNDS, FOR
THE SAKE OF THOSE WHO RECITE HOLD THE MANTRA, SPOKE FURTHER THIS VERSE OF
ERADICATING DISASTERS AND ALLAYING CALAMITIES:
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát lại
vì người tụng chú, nói bài kệ thanh lương tiêu trừ tai họa rằng:
NHƯỢC HÀNH KHOÁNG DÃ SƠN TRẠCH TRUNG,
PHÙNG TRỊ HỔ LANG CHƯ ÁC THÚ,
XÀ, NGOAN, TINH, MỊ, VỌNG LƯỢNG QUỶ,
VĂN TỤNG THỬ CHÚ MẠC NĂNG HẠI.
若行曠野山澤中,
逢值虎狼諸惡獸,
蛇蚖精魅魍魎鬼,
聞誦此呪莫能害。
IF, MOVING THROUGH THE WILDS,
IN THE MOUNTAINS OR THE MARSH,
YOU ENCOUNTER WOLVES OR TIGERS
OR OTHER EVIL BEASTS,
SERPENTS, SNAKES, CHING MEI,
OR WANG LIANG GHOSTS,
RECITE THIS MANTRA AND THEY
WILL NOT CAUSE YOU HARM.
Hành giả đi trong núi đồng
vắng,
Gặp những cọp sói, các thú
dữ,
Rắn, rít, tinh mị, quỉ vọng
lượng.
Tụng tâm chú này khỏi bị hại.
NHƯỢC HÀNH GIANG HỒ THƯƠNG HẢI GIAN,
ĐỘC XÀ, GIAO LONG, MA KIỆT THÚ,
DẠ XOA, LA SÁT, NGƯ, QUY, MIẾT,
VĂN TỤNG THỬ CHÚ TỰ TÀNG ẨN.
若行江湖滄海間,
毒龍蛟龍摩竭獸,
夜叉羅剎魚黿鼈,
聞誦此呪自藏隱。
IF YOU'RE MOVING ON THE RIVERS,
IN THE LAKES OR SEAS,
WHERE THERE ARE POISONOUS SNAKES,
SCALY DRAGONS, OR MAKARA BEASTS.
YAKSHAS, RAKSHASAS, FISH OR SEA TURTLES,
RECITE THIS MANTRA AND THEY ALL WILL HIDE AWAY.
Nếu đi biển cả hoặc sông,
hồ,
Những rồng rắn độc, loài
Ma Kiệt, (56)
Dạ Xoa, La Sát, cá, rùa lớn,
Nghe tụng chú này tự lánh
xa.
NHƯỢC PHÙNG QUÂN TRẬN TẶC VI NHIỄU,
HOẶC BỊ ÁC NHÂN ĐOẠT TÀI BẢO,
CHÍ THÀNH XƯNG TỤNG ĐẠI BI CHÚ,
BỈ KHỞI TỪ TÂM PHỤC ĐẠO QUY.
若逢軍陣賊圍繞,
或被惡人奪財寶,
至誠稱誦大悲呪,
彼起慈心復道歸。
SHOULD YOU MEET WITH BATTLING ARMIES,
BE SURROUNDED BY THIEVES,
OR ROBBED OF YOUR TREASURES BY EVIL MEN,
RECITE THE GREAT COMPASSION MANTRA
WITH EXTREME SINCERITY,
THEY WILL BE COMPASSIONATE AND GO BACK
TO WHERE THEY CAME FROM.
Nếu bị quân trận giặc bao
vây,
Hoặc gặp người ác đoạt tiền
của,
Chí thành xưng tụng chú Đại
Bi,
Giặc cướp khởi lòng tự
thương xót.
NHƯỢC VI VƯƠNG QUAN THÂU LỤC THÂN,
LINH NGỮ CẤM BẾ NỮU GIÀ TỎA,
CHÍ THÀNH XƯNG TỤNG ĐẠI BI CHÚ,
QUAN TỰ KHAI ÂN THÍCH PHÓNG HOÀN.
若為王官收錄身,
囹圄禁閉杻枷鎖,
至誠稱誦大悲呪,
官自開恩釋放還。
SHOULD YOU BE ARRESTED BY OFFICIALS
OF THE KING,
CONFINED IN PRISON, WEARING HANDCUFFS
AND THE CANGUE,
SAY THE GREAT COMPASSION MANTRA
WITH EXTREME SINCERITY,
THE OFFICIALS WILL BE MERCIFUL
AND SET YOU FREE.
Nếu bị vua quan, quân sĩ bắt,
Gông, cùm trói buộc, giam
ngục tù,
Chí thành xưng tụng chú Đại
Bi,
Vua, quan tự mở lòng ân
xá.
NHƯỢC NHẬP DÃ ĐẠO CỔ ĐỘC GIA,
ẨM THỰC HỮU DƯỢC DỤC TƯƠNG HẠI,
CHÍ THÀNH XƯNG TỤNG ĐẠI BI CHÚ,
ĐỘC DƯỢC BIẾN THÀNH CAM LỒ TƯƠNG.
若入野道蠱毒家,
飲食有藥欲相害,
至誠稱誦大悲呪,
毒藥變成甘露漿。
SHOULD YOU COME UPON THE WILD WAYS
OF POISON SORCERERS,
WHO DRUG YOUR FOOD AND DRINK
TO INJURE YOU,
SAY THE GREAT COMPASSION MANTRA
WITH EXTREME SINCERITY,
THEIR VENOM WILL TRANSFORM INTO
THE SAUCE OF SWEET DEW.
Nếu đi vào nhà nuôi sâu độc,
Uống ăn để thuốc muốn hại
nhau,
Chí thành xưng tụng chú Đại
Bi,
Thuốc độc biến thành nước
cam lộ.
NỮ NHÂN LÂM NẠN SANH SẢN THỜI,
TÀ MA GIÀ CHƯỚNG KHỔ NAN NHẪN,
CHÍ TÂM XƯNG TỤNG ĐẠI BI CHÚ,
QUỶ THẦN THOÁI TÁN AN LẠC SANH.
女人臨難生產時,
邪魔遮障苦難忍,
至誠稱誦大悲呪,
鬼神退散安樂生。
WOMEN IN DIFFICULT LABOR
ON THE POINT OF GIVING BIRTH,
BLOCKED BY DEVIANT DEMONS
AND SUFFERING UNBEARABLY,
SHOULD SAY THE GREAT COMPASSION MANTRA
WITH EXTREME SINCERITY;
GHOSTS AND SPIRITS WILL VANISH,
AND THEY WILL GIVE BIRTH IN PEACE.
Nữ nhơn bị nạn khi sanh sản,
Khổ vì ma quái làm ngăn cản,
Chí thành xưng tụng chú Đại
Bi,
Quỷ tà sợ trốn sanh an ổn.
ÁC LONG DỊCH QUỶ HÀNH ĐỘC KHÍ,
NHIỆT BỆNH XÂM LĂNG MẠNG DỤC CHUNG,
CHÍ TÂM XƯNG TỤNG ĐẠI BI CHÚ,
DỊCH BỆNH TIÊU TRỪ THỌ MẠNG TRƯỜNG.
惡龍疫鬼行毒氣,
熱病侵陵命欲終,
至心稱誦大悲呪,
疫病消除壽命長。
POISONOUS FUMES FROM EVIL DRAGONS
AND EPIDEMIC GHOSTS,
MAY SPREAD A FLAMING FEVER,
THREATENING YOUR LIFE;
SAY THE GREAT COMPASSION MANTRA
WITH EXTREME SINCERITY;
PESTILENCE WILL VANISH
AND YOUR LIFESPAN WILL INCREASE.
Gặp rồng, dịch quỷ gieo
hơi độc,
Nóng bức, khổ đau sắp mạng
chung,
Chí thành xưng tụng chú Đại
Bi,
Bịnh dịch tiêu trừ, mạng
trường cữu.
LONG QUỶ LƯU HÀNH CHƯ ĐỘC THŨNG,
UNG SANG HUYẾT THỐNG PHẢ KHAM,
CHÍ TÂM XƯNG TỤNG ĐẠI BI CHÚ,
TAM THÓA ĐỘC THŨNG TÙY KHẨU TIÊU.
龍鬼流行諸毒腫,
癰瘡膿血痛叵堪,
至心稱誦大悲呪,
三唾毒腫隨口消。
GHOSTS AND DRAGONS SPREAD VIRULENCE CAUSING.
BLEEDING BOILS AND FESTEBING ULCERS
SO THE PAIN CANNOT BE BORNE.
SAY THE GREAT COMPASSION MANTRA
WITH EXTREME SINCERITY.
THREE PUFFS--THE POISON IS EXPELLED,
GONE WITHOUT A TRACE.
Rồng, quỉ lưu hành bịnh
thũng độc,
Ung sang lở lói nhiều khổ
đau,
Chí thành xưng tụng chú Đại
Bi,
Khạc ra ba lần hơi độc mất.
CHÚNG SANH TRƯỢC ÁC KHỞI BẤT THIỆN,
YẾM MỊ CHÚ THƯ KẾT OÁN THÙ,
CHÍ TÂM XƯNG TỤNG ĐẠI BI CHÚ,
YẾM MỊ HOÀN TRƯỚC Ư BỔN NHÂN.
眾生濁惡起不善,
厭魅呪詛結怨讐,
至心稱誦大悲呪,
厭魅還著於本人。
BECLOUDED, EVIL BEINGS
DO NOT BRING FORTH THE GOOD,
WITH HEXES AND SPELLS CREATING
ANIMOSITY.
SAY THE GREAT COMPASSION MANTRA
WITH EXTREME SINCERITY.
THE HEX WILL THEN RETURN TO VEX
THE ONE WHO SENT IT FORTH.
Chúng sanh đời trược khởi
lòng ác,
Trù ếm hại cho thỏa oán
thù,
Chí thành xưng tụng chú Đại
Bi,
Liền phản trở lại người
trù ếm.
ÁC SANH TRƯỢC LOẠN PHÁP DIỆT THỜI,
DÂM DỤC HỎA THẠNH TÂM MÊ ĐẢO,
KHÍ BỐI THÊ TẾ NGOẠI THAM NHIỄM,
TRÚ DẠ TÀ TƯ VÔ TẠM ĐÌNH.
NHƯỢC NĂNG XƯNG TỤNG ĐẠI BI CHÚ,
DÂM DỤC HỎA DIỆT, TÀ TÂM TRỪ.
惡生濁亂法滅時,
婬欲火盛心迷倒,
棄背妻婿外貪染,
晝夜邪思無暫停。
若能稱誦大悲呪,
婬欲火滅邪心除。
WHEN BEINGS ARE TURBID AND CHAOTIC
AND THE DHARMA EXTINCT,
THE RAGING FIRE OF SEXUAL DESIRE
INFATUATES THEIR HEARTS.
REJECTING THEIR SPOUSES,
THEY COVET OUTWARD FILTH;
DAY AND NIGHT, THEIR TWISTED THOUGHTS
ARE WITHOUT THE SLIGHTEST PAUSE.
RECITATION OF THE GREAT COMPASSION MANTRA WILL
DESTROY THE FIRE OF SEXUAL DESIRE
AND CAST OUT DEVIANT THOUGHT.
Chúng sanh cõi trược đời mạt
pháp,
Lửa dâm dục thạnh, tâm
điên đảo,
Ngoại tình, xa vợ, bỏ chồng
con,
Ngày đêm mãi tưởng điều
sai quấy,
Nếu hay xưng tụng chú Đại
Bi,
Lửa dục tiêu trừ, tâm tà dứt.
NGÃ NHƯỢC QUẢNG TÁN CHÚ CÔNG LỰC,
NHẤT KIẾP XƯNG DƯƠNG VÔ TẬN KỲ.
我若廣讚呪功力,
一劫稱揚無盡期。
WERE I TO PRAISE EXTENSIVELY
THE POWER OF THIS MANTRA,
I COULD NOT EXHAUST ITS PRAISE
UNTIL THE END OF TIME.
Công lực Đại Bi chỉ lược
qua,
Nếu ta nói hết không cùng
kiếp.
NHĨ THỜI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT CÁO PHẠM THIÊN NGÔN: “TỤNG THỬ CHÚ
NGŨ BIẾN, THỦ NGŨ SẮC TUYẾN TÁC SÁCH. CHÚ NHỊ THẬP NHẤT BIẾN, KẾT TÁC NHỊ THẬP
NHẤT KẾT HỆ HẠNG.
爾時,觀世音菩薩,告梵天言:誦此呪五遍,取五色線作索,呪二十一遍,結作二十一結,繫項。
THE BODHISATTVA WHO REGARDS THE WORLD'S
SOUNDS THEN SAID TO THE BRAHMA HEAVEN KING, "RECITE THIS MANTRA FIVE TIMES
AND FASHION FIVE COLORED THREADS INTO A LARIAT. RECITE THE MANTRA TWENTY-ONE
TIMES WHILE TYING IT INTO TWENTY-ONE KNOTS. THEN PLACE IT AROUND YOUR NECK.
Khi ấy, Quán Thế Âm Bồ Tát
lại bảo Phạm vương rằng: "Này Phạm vương! Nếu
chúng sanh nào muốn tiêu trừ tai nạn ma chướng nên lấy chỉ ngũ sắc xe làm một sợi
niệt, trước tiên tụng chú này 5 biến, kế tụng 21 biến, cứ tụng xong mỗi một biến
lại thắt một gút, rồi đeo nơi cổ hoặc bỏ nơi đãy.
THỬ ĐÀ-LA-NI THỊ QUÁ KHỨ CỬU THẬP CỬU ỨC HẰNG HÀ SA CHƯ PHẬT SỞ
THUYẾT.
此陀羅尼,是過去九十九億恒河沙諸佛所說。
THIS DHARANI HAS BEEN
SPOKEN BY BUDDHAS OF THE PAST AS NUMEROUS AS THE GRAINS IN NINETY-NINE MILLION
GANGES RIVERS.
Tâm chú Đại Bi đây do 99 ức hằng sa chư Phật đời quá khứ đã nói ra.
BỈ ĐẲNG CHƯ PHẬT, VI CHƯ HÀNH NHÂN TU HÀNH LỤC ĐỘ VỊ MÃN TÚC
GIẢ, TỐC LINH MÃN TÚC CỐ; VỊ PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM GIẢ, TỐC LINH PHÁT TÂM CỐ; NHƯỢC
THANH VĂN NHÂN VỊ CHỨNG QUẢ GIẢ, TỐC LINH CHỨNG CỐ;
彼等諸佛,為諸行人,修行六度,未滿足者,速令滿足故;未發菩提心者,速令發心故。若聲聞人,未證果者,速令證故。
ALL THOSE BUDDHAS WILL CAUSE PRACTITIONERS WHO
CULTIVATE BUT WHO HAVE NOT YET COMPLETELY FULFILLED THE SIX PERFECTIONS TO
FULFILL THEM QUICKLY. THOSE WHO HAVE NOT YET BROUGHT FORTH THEIR HEARTS OF
BODHI WILL QUICKLY BE CAUSED TO DO SO. SOUND HEARERS WHO HAVE NOT YET CERTIFIED
TO THE RESULT WILL QUICKLY BE CAUSED TO CERTIFY.
NHƯỢC TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI NỘI, CHƯ THẦN TIÊN NHÂN VỊ
PHÁT VÔ THƯỢNG BỒ-ĐỀ TÂM GIẢ, TỐC LINH PHÁT TÂM CỐ; NHƯỢC CHƯ CHÚNG SANH VỊ ĐẮC
ĐẠI THỪA TÍN CĂN GIẢ, DĨ THỬ ĐÀ-LA-NI UY THẦN LỰC CỐ, LINH KỲ ĐẠI THỪA CHỦNG TỬ
PHÁP NHA TĂNG TRƯỞNG. DĨ NGÃ PHƯƠNG TIỆN TỪ BI LỰC CỐ, LINH KỲ SỞ TU, GIAI ĐẮC
THÀNH BIỆN.
若三千大千世界內,諸神仙人,未發無上菩提心者,令速發心故。若諸眾生,未得大乘信根者,以此陀羅尼威神力故,令其大乘種子,法芽增長。以我方便慈悲力故,令其所須,皆得成辦。
SPIRITS AND IMMORTALS
WITHIN THE THREE THOUSAND GREAT THOUSAND WORLDS WHO HAVE NOT YET BROUGHT FORTH
THE UNSURPASSED HEART OF BODHI WILL QUICKLY BE CAUSED TO DO SO. BY MEANS OF THE
AWESOME SPIRITUAL POWER OF THIS DHARANI, LIVING BEINGS WHO HAVE NOT YET
DEVELOPED THE ROOT OF FAITH IN THE GREAT VEHICLE WILL BE CAUSED TO HAVE THEIR
GREAT VEHICLE SEEDS AND DHARMA SPROUTS GROW. BY MEANS OF THE POWER OF MY
EXPEDIENTS AND MY COMPASSION, EVERYTHING THEY NEED WILL BE ACCOMPLISHED FOR
THEM.
Các đức Phật ấy vì thương xót muốn cho người tu hành: công đức lục độ chưa đầy đủ, mau được đầy đủ; mầm bồ đề chưa phát, mau được phát sanh; hàng thanh văn chưa chứng mau được chứng quả; các vị thần tiên trong cõi đại thiên chưa phát lòng bồ đề, mau được phát tâm Bồ Đề, nếu chúng sanh nào chưa được tín căn đại thừa, do sức oai thần của đà ra ni này, hột giống đại thừa tự sanh mầm và tăng trưởng, lại do sức từ bi phương tiện của ta, khiến cho sự mong cầu của họ đều được thành tựu.
HỰU TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI,
U ẨN ÁM XỨ, TAM ĐỒ CHÚNG SANH, VĂN NGÃ THỬ CHÚ, GIAI ĐẮC LY KHỔ. HỮU
CHƯ BỒ-TÁT VỊ GIAI SƠ TRỤ GIẢ, TỐC LINH ĐẮC CỐ; NÃI CHÍ LINH ĐẮC THẬP TRỤ ĐỊA
CỐ; HỰU LINH ĐẮC ĐÁO PHẬT ĐỊA CỐ, TỰ NHIÊN THÀNH TỰU TAM THẬP NHỊ
TƯỚNG, BÁT THẬP TÙY HÌNH HẢO.
若三千大千世界,幽隱闇處,三塗眾生,聞我此呪,皆得離苦。有諸菩薩,未階初住者,速令得故,乃至令得十住地故。又令得到佛地故,自然成就三十二相、八十隨形好。
MOREOVER, THOSE LIVING BEINGS ON THE THREE EVIL
PATHS WHO ARE HIDDEN IN THE DARK RECESSES OF THE THREE THOUSAND GREAT-THOUSAND
WORLDS WILL, UPON HEARING THIS MANTRA OF MINE, OBTAIN SEPARATION FROM
SUFFERING. BODHISATTVAS WHO HAVE NOT YET ASCENDED TO THE FIRST DWELLING WILL
QUICKLY BE CAUSED TO DO SO, REACHING EVEN TO THE TENTH DWELLING, AND TO THE
ATTAINMENT OF THE BUDDHA LEVEL. THEY WILL SPONTANEOUSLY ACCOMPLISH THE
THIRTY-TWO MARKS AND THE EIGHTY MINOR CHARACTERISTICS.
Lại nữa, trong tam thiên đại
thiên thế giới, những chúng sanh ở nơi ba đường ác, ở chỗ sâu kín tối tăm, nghe
thần chú của ta đây, đều được lìa khổ. Các vị Bồ Tát chưa lên bậc sơ trụ, mau
được siêu lên, cho đến mau chứng ngôi thập trụ. Mau đến quả vị Phật, thành tựu
32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình.
NHƯỢC THANH VĂN NHÂN VĂN THỬ ĐÀ-LA-NI, NHẤT
KINH NHĨ GIẢ, TU HÀNH THƯ TẢ THỬ ĐÀ-LA-NI GIẢ, DĨ CHẤT TRỰC TÂM NHƯ
PHÁP NHI TRỤ GIẢ; TỨ SA-MÔN QUẢ, BẤT CẦU TỰ ĐẮC.
若聲聞人,聞此陀羅尼,一經耳者,修行、書寫此陀羅尼者,以質直心,如法而住者,四沙門果,不求自得。
IF SOUND HEARERS HEAR THIS DHARANI PASS BY THEIR
EARS BUT ONCE, IF THEY CULTIVATE IT AND WRITE IT OUT WITH A STRAIGHTFORWARD
HEART, AND IF THEY DWELL IN ACCORD WITH DHARMA, THEY WILL NATURALLY ATTAIN THE
FOUR FRUITS OF A SHRAMANA, EVEN IF THEY DO NOT SEEK THEM.
Nếu hàng Thanh văn một
phen được nghe qua chú này, hoặc biên chép, tu hành môn đà ra ni này, dùng tâm
chất trực như pháp mà trụ, thì bốn quả Sa môn không cầu tự được.
NHƯỢC TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ
GIỚI NỘI, SƠN HÀ THẠCH BÍCH, TỨ ĐẠI HẢI THỦY, NĂNG LINH DŨNG PHẤT; TU-DI SƠN
CẬP THIẾT-VI SƠN, NĂNG LINH DAO ĐỘNG, HỰU LINH TOÁI NHƯ VI TRẦN; KỲ TRUNG CHÚNG
SANH, TẤT LINH PHÁT VÔ THƯỢNG BỒ-ĐỀ TÂM.
若三千大千世界內,山河、石壁、四大海水,能令涌沸;須彌山及鐵圍山,能令搖動;又令碎如微塵,其中眾生,悉令發無上菩提心。
WITHIN THE THREE THOUSAND GREAT-THOUSAND WORLDS, ALL THE MOUNTAINS, RIVERS, AND PRECIPICES ARE CAUSED TO BUBBLE AND SURGE. MOUNT SUMERU AND THE IRON RING MOUNTAINS ARE CAUSED TO SHAKE AND BREAK APART INTO FINE DUST. LIVING BEINGS IN THEIR MIDST ALL BRING FORTH THE UNSURPASSED HEART OF BODHI.
Công lực của thần chú này
có thể khiến cho nước sông, hồ, biển cả trong cõi đại thiên dâng trào, vách đá,
núi nhỏ, núi Thiết vi và núi Tu Di thảy đều rung động, lại có thể làm cho tan
nát như bụi nhỏ, những chúng sanh ở trong ấy đều phát tâm Bồ Đề.
NHƯỢC CHƯ CHÚNG SANH HIỆN THẾ CẦU NGUYỆN GIẢ, Ư TAM
THẤT NHẬT, TỊNH TRÌ TRAI GIỚI, TỤNG THỬ ĐÀ-LA-NI, TẤT QUẢ SỞ NGUYỆN;
TÙNG SANH TỬ TẾ CHÍ SANH TỬ TẾ, NHẤT THIẾT ÁC NGHIỆP TỊNH GIAI
DIỆT TẬN; TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI NỘI, NHẤT THIẾT CHƯ PHẬT BỒ-TÁT,
PHẠM THÍCH TỨ THIÊN VƯƠNG, THẦN TIÊN LONG VƯƠNG, TẤT GIAI CHỨNG TRI.
若諸眾生,現世求願者,於三七日,淨持齋戒,誦此陀羅尼,必果所願。從生死際,至生死際,一切惡業,並皆滅盡。三千大千世界內,一切諸佛、菩薩、梵釋四天王、神仙、龍王,悉皆證知。
IF LIVING BEINGS WOULD
HAVE WHAT THEY SEEK, THEY SHOULD HOLD THE PRECEPTS PURELY, PRACTICE
VEGETARIANISM, AND RECITE THE DHARANI FOR TWENTY-ONE DAYS; THEY WILL CERTAINLY
OBTAIN THEIR WISH. FROM THE LIMIT OF BIRTH AND DEATH TO THE LIMIT OF BIRTH AND
DEATH, ALL THEIR EVIL KARMA WILL BE ERADICATED. ALL BUDDHAS, BODHISATTVAS,
BRAHMAS, SHAKRA, THE FOUR HEAVENLY KINGS, SPIRITS, IMMORTALS, AND DRAGON KINGS
WITHIN THE THREE THOUSAND GREAT-THOUSAND WORLDS WILL CERTIFY TO THIS.
Nếu chúng sanh nào trong đời
hiện tại muốn mong cầu việc chi, nên giữ trai giới nghiêm sạch trong 21 ngày và
tụng trì chú Đại Bi, tất đều được toại nguyện. Nếu thường chí tâm trì tụng, thì
từ kiếp sống chết này đến kiếp sống chết khác, tất cả các nghiệp ác đều mau
tiêu diệt. Tất cả chư Phật, Bồ Tát, Phạm Thiên, Đế Thích, Tứ Thiên vương, thần,
tiên, Long vương, thảy đều chứng biết cho.
NHƯỢC CHƯ THIÊN NHÂN TỤNG TRÌ THỬ ĐÀ-LA-NI GIẢ, KỲ NHÂN NHƯỢC
TẠI GIANG HÀ ĐẠI HẢI TRUNG MỘC DỤC, KỲ TRUNG CHÚNG SANH ĐẮC THỬ NHÂN MỘC
THÂN CHI THỦY, TRIÊM TRƯỚC KỲ THÂN, NHẤT THIẾT ÁC NGHIỆP TRỌNG TỘI TẤT GIAI
TIÊU DIỆT, TỨC ĐẮC CHUYỂN SANH THA PHƯƠNG TỊNH ĐỘ, LIÊN HOA HÓA SANH, BẤT THỌ THAI
THÂN, THẤP NOÃN CHI THÂN, HÀ HUỐNG THỌ TRÌ ĐỘC TỤNG GIẢ?
若諸人天,誦持此陀羅尼者,其人若在江河大海中沐浴,其中眾生,得此人浴身之水,霑著其身,一切惡業、重罪,悉皆消滅,即得轉生他方淨土,蓮華化生,不受胎身、濕卵之身,何況受持讀誦者?
IF A GOD WHO RECITES AND
HOLDS THIS DHARANI SHOULD BATHE IN A RIVER, IN A STREAM, OR IN THE OCEAN, AND
IF LIVING BEINGS MOISTEN THEMSELVES WITH SOME OF THE WATER IN WHICH THAT GOD
HAS BATHED, ALL THEIR EVIL KARMA AND HEAVY OFFENSES WILL BE WIPED AWAY. THEY
WILL IN TURN BE BORN IN THE PURE LANDS OF OTHER DIRECTIONS; BORN
TRANSFORMATIONALLY FROM A LOTUS FLOWER, THEY WILL NOT UNDERGO BIRTH FROM A
WOMB, FROM MOISTURE, OR FROM AN EGG. THIS IS EVEN MORE THE CASE IF THEY SHOULD
RECITE AND HOLD THE MANTRA THEMSELVES.
Hàng trời, người nào thường thọ trì tâm chú này như tắm gội trong sông, hồ, biển cả, nếu những chúng sanh ở trong đó được nước tắm gội của người này dính vào thân thì bao nhiêu nghiệp nặng tội ác thảy đều tiêu diệt, liền được siêu sinh về Tây phương Tịnh Độ, hóa sanh nơi hoa sen, không còn thọ thân thai, noãn, thấp nữa. Các chúng sanh ấy chỉ nhờ chút ảnh hưởng mà còn được như thế, huống chi là chính người trì tụng?
NHƯỢC TỤNG TRÌ GIẢ HÀNH Ư ĐẠO LỘ, ĐẠI PHONG THỜI LAI, XUY
THỬ NHÂN THÂN MAO PHÁT Y PHỤC, DƯ PHONG HẠ QUÁ; CHƯ LOẠI
CHÚNG SANH ĐẮC KỲ NHÂN PHIÊU THÂN PHONG XUY TRƯỚC Y GIẢ, NHẤT THIẾT TRỌNG
CHƯỚNG ÁC NGHIỆP TỊNH GIAI DIỆT TẬN, CÁNH BẤT THỌ TAM ÁC ĐẠO BÁO, THƯỜNG
SANH PHẬT TIỀN.
若誦持者,行於道路,大風時來,吹此人身、毛髮、衣服,餘風下過,諸類眾生,得其人飃身風,吹著身者,一切重罪、惡業,並皆滅盡,更不受三惡道報,常生佛前。
IF ONE WHO RECITES AND HOLDS THE GREAT COMPASSION MANTRA SHOULD BE WALKING ALONG THE ROAD, AND SHOULD A WIND BLOW ACROSS HIS BODY AND CLOTHING, THEN IF LIVING BEINGS DOWNWIND ARE TOUCHED BY THAT BREEZE, THEN ALL THEIR HEAVY OBSTACLES AND BAD KARMA WILL BE ERADICATED. THEY WILL, MOREOVER, NOT RECEIVE THE RETRIBUTION OF THE THREE EVIL PATHS AND WILL ALWAYS BE BORN IN THE PRESENCE OF A BUDDHA.
Và,
như người tụng chú đi nơi đường, có ngọn gió thổi qua mình, nếu những chúng
sanh ở sau được ngọn gió của kẻ ấy lướt qua y phục thì tất cả nghiệp ác, chướng
nặng thảy đều tiêu diệt, không còn đọa vào tam đồ, thường sanh ở trước chư Phật.
ĐƯƠNG TRI THỌ TRÌ GIẢ, PHÚC ĐỨC QUẢ BÁO BẤT
KHẢ TƯ NGHỊ.
當知受持者,福德果報,不可思議。
YOU SHOULD KNOW THAT THE
REWARD OF BLESSINGS AND VIRTUE THAT ACCRUE TO ONE WHO ACCEPTS AND HOLDS THE
MANTRA ARE INCONCEIVABLE.
Cho nên, phải biết quả báo
phước đức của người trì tụng chú thật không thể nghĩ bàn!
TỤNG TRÌ THỬ ĐÀ LA NI GIẢ, KHẨU TRUNG SỞ XUẤT NGÔN ÂM, NHƯỢC
THIỆN NHƯỢC ÁC, NHẤT THIẾT THIÊN MA, NGOẠI ĐẠO, THIÊN LONG QUỶ THẦN VĂN GIẢ,
GIAI THỊ THANH TỊNH PHÁP ÂM, GIAI Ư KỲ NHÂN KHỞI CUNG KÍNH TÂM, TÔN TRỌNG NHƯ
PHẬT.
誦持此陀羅尼者,口中所出言音,若善、若惡,一切天魔、外道、天龍、鬼神聞者,皆是清淨法音,皆於其人起恭敬心,尊重如佛。
ALL WORDS SPOKEN BY ONE
WHO RECITES AND HOLDS THIS DHARANI, BE THEY GOOD OR EVIL, ARE HEARD AS THE
CLEAR, PURE SOUNDS OF DHARMA BY THE HEAVENLY DEMONS, EXTERNALISTS, GODS,
DRAGONS, GHOSTS, AND SPIRITS, WHO ALL RESPECT THAT PERSON AND VENERATE HIM AS
IF HE WERE A BUDDHA.
Lại nữa, người trì tụng đà
ra ni này, khi thốt ra lời nói chi, hoặc thiện hoặc ác, tất cả thiên ma ngoại đạo,
Thiên, Long, quỷ thần đều nghe thành tiếng pháp âm thanh tịnh, đối với người ấy
khởi lòng cung kính, tôn trọng như Phật.
TỤNG TRÌ THỬ ĐÀ LA NI GIẢ, ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN TỨC THỊ PHẬT
THÂN TẠNG, CỬU THẬP CỬU ỨC HẰNG HÀ SA CHƯ PHẬT SỞ ÁI TÍCH CỐ.
誦持此陀羅尼者,當知其人,即是佛身藏,九十九億恒河沙諸佛所愛惜故。
AS TO ONE WHO RECITES AND
HOLDS THE DHARANI, YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF THE BUDDHA'S BODY,
FOR HE IS CHERISHED BY THE BUDDHAS IN NUMBER AS THE SANDS IN NINETY-NINE
MILLION GANGES RIVERS.
Người nào trì tụng đà ra
ni này nên biết người ấy chính là tạng Phật thân, vì 99 ức hằng hà sa chư Phật
đều yêu quý.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN TỨC THỊ QUANG MINH TẠNG, NHẤT THIẾT NHƯ LAI
QUANG MINH CHIẾU CỐ.
當知其人,即是光明藏,一切如來光明照故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS
A TREASURY OF BRIGHT LIGHT, FOR HE IS BRIGHTLY ILLUMINATED BY ALL THE THUS COME
ONES.
Nên biết người ấy chính là
tạng quang minh, vì ánh sáng của tất cả Như Lai đều chiếu đến nơi mình.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN THỊ TỪ BI TẠNG, HẰNG DĨ ĐÀ LA NI CỨU CHÚNG
SANH CỐ.
當知其人,是慈悲藏,恒以陀羅尼救眾生故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF COMPASSION,
FOR HE CONTINUALLY USES THE DHARANI TO RESCUE LIVING BEINGS.
Nên biết người ấy chính là tạng từ bi, vì thường dùng đà ra ni cứu độ chúng sanh.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN THỊ DIỆU PHÁP TẠNG, PHỔ NHIẾP NHẤT THIẾT
CHƯ ĐÀ LA NI MÔN CỐ.
當知其人,是妙法藏,普攝一切諸陀羅尼門故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF THE
WONDERFUL DHARMA, FOR HE INCORPORATES ALL DHARANI-DOORS.
Nên biết người ấy chính là tạng diệu pháp, vì nhiếp hết tất cả các môn các môn đà ra ni.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN THỊ THIỀN ĐỊNH TẠNG, BÁCH THIÊN TAM MUỘI GIAI HIỆN TIỀN CỐ.
當知其人,是禪定藏,百千三昧常現前故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF DHYANA
CONCENTRATION BECAUSE THE HUNDRED THOUSAND SAMADHIS ALL ARE MANIFEST.
Nên biết người ấy chính là tạng thiền định vì trăm ngàn tam muội thảy đều hiện tiền.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN THỊ HƯ KHÔNG TẠNG, THƯỜNG DĨ KHÔNG HUỆ QUÁN
CHÚNG SANH CỐ.
當知其人,是虛空藏,常以空慧觀眾生故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF EMPTY
SPACE, FOR HE ALWAYS USES THE WISDOM OF EMPTINESS TO CONTEMPLATE LIVING BEINGS.
Nên biết người ấy chính là tạng hư không, vì hằng dùng không huệ quán sát chúng sanh.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN THỊ VÔ ÚY TẠNG, LONG THIÊN THIỆN THẦN THƯỜNG
HỘ TRÌ CỐ.
當知其人,是無畏藏,龍天善神常護持故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF
FEARLESSNESS, FOR HE IS ALWAYS PROTECTED BY DRAGONS, GODS, AND GOOD SPIRITS.
Nên biết người ấy chính là tạng vô úy vì thiên, long, thiện thần thường theo hộ trì.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN THỊ DIỆU NGỮ TẠNG, KHẨU TRUNG ĐÀ LA NI ÂM
VÔ ĐOẠN TUYỆT CỐ.
當知其人,是妙語藏,口中陀羅尼音無斷絕故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF WONDERFUL
SPEECH, FOR THE SOUND OF THE DHARANI COMES FROM HIS MOUTH WITHOUT CEASE.
Nên biết người ấy chính là tạng diệu ngữ vì tiếng đà ra ni trong miệng tuôn ra bất tuyệt.
ĐƯƠNG TRI KỲ
NHÂN THỊ THƯỜNG TRỤ TẠNG, TAM TAI ÁC KIẾP BẤT NĂNG HOẠI CỐ.
當知其人,是常住藏,三災惡劫不能壞故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF THE
PERMANENTLY DWELLING, FOR THE THREE DISASTERS OF THE EVIL AEON CANNOT DESTROY
HIM.
Nên biết người ấy chính là tạng thường trụ vì tam tai, ác kiếp(57) không thể làm hại.
ĐƯƠNG TRI KỲ
NHÂN THỊ GIẢI THOÁT TẠNG, THIÊN MA NGOẠI ĐẠO BẤT NĂNG KÊ LƯU CỐ.
當知其人,是解脫藏,天魔外道不能稽留故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF LIBERATION,
FOR HE CANNOT BE HINDERED BY HEAVENLY DEMONS OR BY THOSE OF EXTERNALIST
RELIGIONS.
Nên biết người ấy chính là tạng giải thoát vì thiên ma ngoại đạo không thể bức hại.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN THỊ DƯỢC VƯƠNG TẠNG, THƯỜNG DĨ ĐÀ-LA-NI LIỆU
CHÚNG SANH BỆNH CỐ.
當知其人,是藥王藏,常以陀羅尼療眾生病故。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF THE KING OF
MEDICINE, FOR HE CONSTANTLY USES THE DHARANI TO CURE THE ILLNESSES OF LIVING
BEINGS.
Nên biết người ấy chính là tạng Dược vương vì thường dùng đà ra ni trị bịnh chúng sanh.
ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN THỊ THẦN THÔNG TẠNG, DU CHƯ PHẬT QUỐC ĐẮC TỰ
TẠI CỐ. KỲ NHÂN CÔNG ĐỨC, TÁN BẤT KHẢ TẬN.
當知其人,是神通藏,遊諸佛國得自在故。其人功德讚不可盡。
YOU SHOULD KNOW THAT HE IS A TREASURY OF SPIRITUAL
PENETRATIONS, FOR, HAVING OBTAINED COMFORT, HE ROAMS THROUGH THE BUDDHA LANDS.
PRAISE CANNOT
EXHAUST THE MERIT AND VIRTUE OF ONE SUCH AS THIS.
Nên biết người ấy chính là tạng thần thông vì được tự tại dạo chơi nơi mười phương cõi Phật. Công đức người ấy khen ngợi không thể cùng!
THIỆN NAM TỬ! NHƯỢC PHỤC HỮU NHÂN, YẾM THẾ GIAN KHỔ, CẦU TRƯỜNG
SANH LẠC GIẢ, TẠI NHÀN TỊNH XỨ, THANH TỊNH KẾT GIỚI, CHÚ Y TRƯỚC, NHƯỢC THỦY,
NHƯỢC THỰC, NHƯỢC HƯƠNG, NHƯỢC DƯỢC, GIAI CHÚ NHẤT BÁCH BÁT BIẾN PHỤC, TẤT ĐẮC
TRƯỜNG MẠNG.
善男子!若復有人,厭世間苦,求長生樂者,在閑淨處,清淨結界。呪衣著。若水、若食、若香、若藥,皆呪一百八遍,服,必得長命。
GOOD MAN, IF, FURTHER,
THERE IS SOMEONE WHO DETESTS THE SUFFERING OF THIS WORLD AND SEEKS A LONG LIFE
AND HAPPINESS, HE SHOULD TIE OFF THE BOUNDARIES IN A PURE MANNER IN A CLEAN AND
SECLUDED PLACE. HE SHOULD RECITE THE MANTRA OVER HIS CLOTHING, WATER, FOOD,
INCENSE, AND MEDICINE EACH 108 TIMES BEFORE USING THEM, AND HE WILL CERTAINLY
OBTAIN LONG LIFE.
Đức Phật bảo Phạm vương: - "Này thiện nam tử! Nếu kẻ nào chán sự khổ ở thế gian muốn cầu thuốc trường sanh, thì nên an trụ nơi chỗ vắng lặng sạch sẽ, kiết giới thanh tịnh và thật hành một trong các phương pháp như sau: Hoặc tụng chú vào trong áo mà mặc, hoặc tụng chú vào nước uống, thức ăn, chất thơm, dược phẩm mà dùng. Nên nhớ mỗi thứ đều tụng 108 biến, tất sẽ được sống lâu".
NHƯỢC NĂNG NHƯ PHÁP KẾT GIỚI, Y PHÁP THỌ TRÌ, NHẤT THIẾT THÀNH TỰU.
若能如法結界,依法受持,一切成就。
IF ONE CAN TIE OFF THE BOUNDARIES IN ACCORD WITH
DHARMA AND RECEIVE AND HOLD THE MANTRA IN ACCORD WITH DHARMA, EVERYTHING WILL
BE ACCOMPLISHED.
Nếu có thể kiết giới đúng
pháp, và y như pháp mà thọ trì, thì mọi việc đều thành tựu.
KỲ KẾT GIỚI PHÁP GIẢ: THỦ ĐAO, CHÚ NHỊ THẬP NHẤT BIẾN, HOẠCH ĐỊA VI
GIỚI; HOẶC THỦ TỊNH THỦY, CHÚ NHỊ THẬP NHẤT BIẾN, TÁN TRƯỚC TỨ PHƯƠNG VI GIỚI;
HOẶC THỦ BẠCH GIỚI TỬ, CHÚ NHỊ THẬP NHẤT BIẾN, TRỊCH TRƯỚC TỨ PHƯƠNG VI GIỚI;
HOẶC DĨ TƯỞNG ĐÁO XỨ VI GIỚI; HOẶC THỦ TỊNH KHÔI, CHÚ NHỊ THẬP NHẤT BIẾN VI
GIỚI; HOẶC CHÚ NGŨ SẮC TUYẾN NHỊ THẬP NHẤT BIẾN, VI NHIỄU TỨ BIÊN VI GIỚI, GIAI
ĐẮC.
其結界法者,取刀,呪二十一遍,劃地為界。或取淨水,呪二十一遍,散著四方為界。或取白芥子,呪二十一遍,擲著四方為界。或以想到處為界,或取淨灰,呪二十一遍為界。或呪五色線二十一遍,圍繞四邊為界。皆得。
THE FOLLOWING IS THE METHOD FOR TYING OFF THE
BOUNDARIES: ONE MAY EITHER MANTRA A KNIFE TWENTY-ONE TIMES AND CARVE THE
BOUNDARY IN THE EARTH, OR MANTRA CLEAN WATER TWENTY-ONE TIMES AND SPRINKLE IT
IN THE FOUR DIRECTIONS AS THE BOUNDARY, OR MANTRA WHITE MUSTARD SEEDS
TWENTY-ONE TIMES AND SCATTER THEM IN THE FOUR DIRECTIONS AS THE BOUNDARY, OR
EXTEND YOUR THOUGHT TO THE PLACE OF THE BOUNDARY, OR MANTRA PURE ASHES
TWENTY-ONE TIMES AND USE THEM TO MAKE THE BOUNDARY, OR MANTRA FIVE COLORED
THREADS TWENTY-ONE TIMES AND USE THEM TO TIE FOUR BOUNDARIES; ANY OF THESE WILL
DO.
Phép kiết giới như thế nào? Hoặc tụng chú vào lưỡi dao sạch, rạch đất xung quanh làm giới hạn. Hoặc tụng chú vào nước sạch, rảy bốn phương làm giới hạn. Hoặc tụng chú vào hột cải trắng, liệng ra bốn phía làm giới hạn. Hay dùng tâm tưởng đến chỗ nào thì chỗ đó là giới hạn. Hoặc tụng chú vào tro sạch, rải xung quanh làm giới hạn. Hoặc tụng chú vào chỉ ngũ sắc, treo vây bốn bên làm giới hạn. Mấy phương pháp trên đây, dùng cách nào cũng được. Nên nhớ mỗi thứ đều phải tụng cho đủ 21 biến.
NHƯỢC NĂNG NHƯ PHÁP THỌ TRÌ, TỰ NHIÊN KHẮC QUẢ.
若能如法受持,自然剋果。
IF ONE CAN RECEIVE AND HOLD THE MANTRA IN ACCORD
WITH DHARMA, ONE WILL SPONTANEOUSLY OBTAIN THE FRUIT.
Nếu tụng trì đúng pháp, tự nhiên sẽ được hiệu quả.
NHƯỢC VĂN THỬ
ĐÀ-LA-NI DANH TỰ GIẢ, THƯỢNG DIỆT VÔ LƯỢNG KIẾP SANH TỬ TRỌNG TỘI, HÀ HUỐNG
TỤNG TRÌ GIẢ? NHƯỢC ĐẮC THỬ THẦN CHÚ TỤNG GIẢ, ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN DĨ TẰNG CÚNG
DƯỜNG VÔ LƯỢNG CHƯ PHẬT, QUẢNG CHỦNG THIỆN CĂN.
若聞此陀羅尼名字者,尚滅無量劫生死重罪,何況誦持者?若得此神呪誦者,當知其人,已曾供養無量諸佛,廣種善根。
ONE WHO SO MUCH AS HEARS THE NAME OF THIS DHARANI
ERADICATES LIMITLESS AEONS OF THE HEAVY OFFENSES OF BIRTH AND DEATH; HOW MUCH
THE MORE SO FOR ONE WHO RECITES AND HOLDS IT! YOU SHOULD KNOW THAT ONE WHO
OBTAINS AND RECITES THIS DHARANI HAS IN THE PAST ALREADY MADE OFFERINGS TO
COUNTLESS BUDDHAS, EXTENSIVELY PLANTING GOOD ROOTS.
- Này thiện nam tử! Chúng
sanh nào nghe danh tự của môn đà ra ni này còn được tiêu diệt tội nặng sanh tử
trong vô lượng kiếp, huống chi là tụng trì? Nếu người nào được thần chú này mà
tụng trì, phải biết kẻ ấy đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, gieo nhiều căn
lành.
NHƯỢC NĂNG VI
CHƯ CHÚNG SANH BẠT KỲ KHỔ NẠN, NHƯ PHÁP TỤNG TRÌ GIẢ, ĐƯƠNG TRI KỲ NHÂN TỨC THỊ
CỤ ĐẠI BI GIẢ, THÀNH PHẬT BẤT CỬU; SỞ KIẾN CHÚNG SANH, GIAI TẤT VI TỤNG, LINH
BỈ NHĨ VĂN, DỮ TÁC BỒ-ĐỀ NHÂN, THỊ NHÂN CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG VÔ BIÊN, TÁN BẤT KHẢ
TẬN.
若能為諸眾生,拔其苦難,如法誦持者,當知其人,即是具大悲者。成佛不久,所見眾生,皆悉為誦,令彼耳聞,與作菩提因,是人功德,無量無邊,讚不可盡。
YOU SHOULD KNOW THAT ONE WHO CAN, FOR THE SAKE OF
RESCUING LIVING BEINGS FROM SUFFERING AND DIFFICULTY, RECITE AND HOLD IT
ACCORDING TO DHARMA HAS PERFECTED THE GREAT COMPASSION AND WILL SOON REALIZE
BUDDHAHOOD.HE RECITES THE MANTRA FOR
ALL THE LIVING BEINGS HE SEES, CAUSING IT TO PASS BY THEIR EAR AND BECOME A
CAUSE FOR THE REALIZATION OF BODHI. HIS MERIT AND VIRTUE IS LIMITLESS AND
BOUNDLESS. PRAISE CANNOT EXHAUST IT.
Nếu kẻ nào tụng trì đúng
pháp nên biết người ấy là bậc có đủ tâm đại bi, không bao lâu nữa sẽ thành Phật.
Cho nên, hành giả khi thấy mọi loài, đều nên vì chúng tụng trì chú này, khiến
cho chúng được nghe để cùng gây nhân Bồ Đề, thì sẽ được vô lượng, vô biên công
đức.
NHƯỢC NĂNG TINH THÀNH DỤNG TÂM, THÂN TRÌ TRAI GIỚI, VI NHẤT THIẾT CHÚNG
SANH SÁM HỐI TIÊN NGHIỆP CHI TỘI, DIỆC TỰ SÁM TẠ VÔ LƯỢNG KIẾP LAI CHỦNG CHỦNG
ÁC NGHIỆP, KHẨU TRUNG “CẤP CẤP” [馺馺] TỤNG THỬ ĐÀ LA NI, THANH THANH BẤT
TUYỆT GIẢ, TỨ SA MÔN QUẢ, THỬ SANH TỨC CHỨNG.
若能精誠用心,身持齋戒,為一切眾生,懺悔先業之罪,亦自懺謝,無量劫來,種種惡業,口中馺馺,誦此陀羅尼,聲聲不絕者,四沙門果,此生即證。
IF YOU CAN APPLY YOUR MIND WITH PURE SINCERITY,
MAINTAIN VEGETARIANISM AND THE PRECEPTS, AND REPENT AND REFORM ALL PAST
OFFENSES ON BEHALF OF LIVING BEINGS; IF YOU CAN REPENT AND CONFESS YOUR OWN
VARIOUS EVIL ACTS COMMITTED THROUGHOUT COUNTLESS AEON; AND IF YOU CAN RECITE
THE DHARANI LIKE “CHI, CHI,” WITHOUT A SINGLE SOUND BEING CUT OFF, THEN YOU MAY
CERTIFY TO THE FOUR FRUITS OF A SHRAMANA IN THIS VERY LIFE.
Nếu kẻ hành trì khéo giữ
gìn trai giới, dụng tâm tinh thành, vì tất cả chúng sanh sám hối nghiệp ác đời
trước tự mình cũng sám hối những ác nghiệp đã gây ra từ vô lượng kiếp đến nay,
nơi miệng rành rẽ tụng đà ra ni này tiếng tăm liên tiếp không dứt, thì trong đời
hiện tại liền chứng được bốn đạo quả của bậc Sa Môn.
KỲ LỢI CĂN HỮU HUỆ QUÁN PHƯƠNG TIỆN GIẢ, THẬP ĐỊA QUẢ VỊ, KHẮC HOẠCH BẤT
NAN; HÀ HUỐNG THẾ GIAN TIỂU TIỂU PHÚC BÁO? SỞ HỮU CẦU NGUYỆN, VÔ BẤT QUẢ TOẠI
GIẢ DÃ!
其利根有慧,觀方便者,十地果位,剋獲不難,何況世間小小福報?所有求願,無不果遂者也。
YOU WILL BE ENDOWED WITH A KEEN DISPOSITION, WISE
CONTEMPLATIONS, AND EXPEDIENT MEANS. YOU WILL OBTAIN THE STATUS OF THE TEN
GROUNDS WITHOUT DIFFICULTLY. EVEN MORE WILL YOU BE REMARDED WITH SMALL WORLDLY
BLESSINGS. YOU WILL OBTAIN EVERYTHING YOU SEEK.
Nếu là hạng lợi căn, có
phương tiện huệ quán thì quả vị thập địa còn chứng được không lấy gì làm khó,
huống gì là những phước báo nhỏ nhặt ở thế gian. Những việc như thế, nếu có
mong cầu, đều được toại nguyện.
Nhược dục sử quỷ giả,
thủ dã độc lâu tịnh tẩy, ư thiên nhãn tượng tiền thiết đàn tràng. Dĩ chủng chủng
hương hoa ẩm thực tế chi, nhật nhật như thị, thất nhật tất lai hiện thân, tùy
nhân sử linh.
若欲使鬼者,取野髑髏淨洗,於千眼像前設壇場,以種種香華、飲食祭之,日日如是,七日必來現身,隨人使令。
IF YOU WISH TO COMMAND GHOSTS, WASH A WILD BONE CLEAN, ERECT A PLATFORM BEFORE A THOUSAND-EYED IMAGE AND MAKE OFFERINGS OF MANY KINDS OF INCENSE, FLOWERS, FOOD, AND DRINK, DO THIS DAILY, AND ON THE SEVENTH DAY THE BODY WILL CERTAINLY APPEAR TO OBEY YOUR COMMANDS.
- Này thiện nam tử! Nếu
người nào muốn sai khiến quỷ, thì tìm một chiếc xương sọ của kẻ qua đời, đem về
rửa sạch. Kế đó lập đàn tràng để chiếc xương ấy trước tượng Thiên Nhãn, chí tâm
tụng chú, mỗi ngày đều dùng hương hoa, cùng các thứ ăn uống cúng tế vong linh,
đúng bảy ngày như thế, quỷ sẽ hiện thân, tùy theo mạng lịnh của người ấy sai bảo.
Nhược dục sử tứ thiên vương giả, chú đàn hương thiêu chi, do thử Bồ Tát đại bi nguyện lực thâm trọng cố, diệc vị thử Đà La Ni uy thần quảng đại cố.
若欲使四天王者,呪檀香燒之。由此菩薩大悲願力深重故,亦為此陀羅尼威神廣大故。
IF YOU WISH TO COMMAND THE FOUR HEAVENLY KINGS,
MANTRA SANDALWOOD INCENSE AND BURN IT. THE ABILITY TO COMMAND THEM ARISES
THROUGH THE INTENSITY OF THE BODHISATTVA'S GREAT COMPASSIONATE VOW POWER AND
THROUGH THE VAST, GREAT, AWESOME POWER OF THE DHARANI.
Như hành nhơn muốn sai khiến
Tứ Thiên Vương, thì tụng chú này vào gỗ đàn hương rồi đốt lên, sẽ thấy hiệu quả.
Sở dĩ được như thế cũng là do nguyện lực đại từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát sâu nặng,
lại cũng do oai thần rộng lớn của đà ra ni này.
PHẬT
CÁO A-NAN: “NHƯỢC HỮU QUỐC ĐỘ, TAI NẠN KHỞI THỜI, THỊ ĐỘ QUỐC VƯƠNG, NHƯỢC DĨ
CHÁNH PHÁP TRỊ QUỐC, KHOAN TÚNG NHÂN VẬT, BẤT UỔNG CHÚNG SANH, XÁ CHƯ HỮU QUÁ,
THẤT NHẬT THẤT DẠ, THÂN TÂM TINH TẤN, TỤNG TRÌ NHƯ THỊ ĐẠI BI TÂM ĐÀ-LA-NI THẦN
CHÚ, LINH BỈ QUỐC ĐỘ, NHẤT THIẾT TAI NẠN TẤT GIAI TRỪ DIỆT, NGŨ CỐC PHONG ĐĂNG,
VẠN TÁNH AN LẠC.
佛告阿難:若有國土,災難起時,是土國王,若以正法治國,寬縱人物,不枉眾生,赦諸有過,七日七夜,身心精進,誦持如是大悲心陀羅尼神呪,令彼國土,一切災難,悉皆除滅,五穀豐登,萬姓安樂。
THE BUDDHA TOLD ANANDA,
IF, IN A TIME OF DISASTER OR DIFFICULTY, THE KING OF A NATION GOVERNS THE
COUNTRY BY MEANS OF THE ORTHODOX DHARMA, IS LIBERAL TOWARD PEOPLE AND ANIMALS,
DOES NOT OPPRESS LIVING BEINGS, AND PARDONS THOSE WITH OFFENSES; AND IF, FOR
SEVEN DAYS AND NIGHTS, HE RECITES AND HOLDS THE GREAT COMPASSION HEART DHARANI,
THE SPIRITUAL MANTRA, WITH BODILY AND MENTAL VIGOR, THEN ALL DISASTERS AND
DIFFICULTIES IN THAT COUNTRY WILL BE WIPED AWAY. THE FIVE GRAINS WILL BEAR AN
ABUNDANT HARVEST, AND THE POPULATION WILL BE AT PEACE.
Đức Phật lại gọi ngài A
Nan mà bảo: - Này A Nan! Khi trong một
nước có tai nạn nổi lên nếu muốn được an ổn, vị quốc vương ở xứ ấy phải biết
dùng chánh pháp trị dân, có độ lượng khoan hồng, không làm oan uổng trăm họ,
tha kẻ tù phạm, và giữ thân tâm tinh tấn đọc tụng chú này. Hành trì như thế
luôn bảy ngày đêm thì trong cõi nước ấy tất cả tai nạn thảy đều tiêu tan, ngũ cốc
phong thạnh, dân chúng được an vui.
HỰU NHƯỢC VI Ư THA QUỐC OÁN ĐỊCH, SÁC LAI XÂM NHIỄU, BÁ TÁNH
BẤT AN, ĐẠI THẦN MƯU PHẢN, DỊCH KHÍ LƯU HÀNH, THỦY HẠN BẤT ĐIỀU, NHẬT NGUYỆT THẤT
ĐỘ, NHƯ THỊ CHỦNG CHỦNG TAI NẠN KHỞI THỜI, ĐƯƠNG TẠO THIÊN NHÃN ĐẠI BI TÂM TƯỢNG,
DIỆN HƯỚNG TÂY PHƯƠNG, DĨ CHỦNG CHỦNG HƯƠNG HOA, TRÀNG PHAN BẢO CÁI, HOẶC BÁCH
VỊ ẨM THỰC, CHÍ TÂM CÚNG DƯỜNG...
又若為於他國怨敵,數來侵擾,百姓不安,大臣謀叛,疫氣流行,水旱不調,日月失度。如是種種災難起時,當造千眼大悲心像,面向西方,以種種香華、幢旛、寶蓋、或百味飲食,至心供養。
MOREOVER, IF FOREIGN
ENEMIES MAKE FREQUENT INVASIONS AND CREATE DISTURBANCES, UPSETTING THE
CITIZENS; IF SENIOR OFFICIALS PLOT AGAINST THE STATE; IF THERE IS PESTILENCE,
DROUGHT, OR IF THE SUN AND MOON ARE OUT OF BALANCE; SHOULD ANY SUCH DISASTERS
OR DIFFICULTIES ARISE, YOU SHOULD MAKE AN IMAGE OF THE THOUSAND-EYED ONE OF THE
GREAT COMPASSIONATE HEART AND SET IT FACING THE WEST. WITH A SINCERE HEART, YOU
SHOULD MAKE OFFERINGS TO IT OF ALL KINDS OF INCENSE, FLOWERS, BANNERS, AND
JEWELED CANOPIES, AND WITH EVERY KIND OF FOOD AND DRINK.
Lại trong một xứ, nếu gặp những tai ương dồn dập như: bị nước nghịch đem binh xâm lấn, dân tình rối loạn không yên, quan đại thần mưu phản, bịnh dịch lưu hành, mưa nắng trái thời hoặc nhựt, nguyệt sai độ... Muốn diệt các thứ tai nạn như thế ấy, vị quốc vương phải lập đàn tràng, tạo tượng Thiên Nhãn Đại Bi để day mặt về phương Tây, sắm các thứ hương, hoa, tràng phan, bảo cái, hoặc trăm thức ăn uống mà cúng dường.
KỲ VƯƠNG HỰU NĂNG THẤT NHẬT THẤT DẠ, THÂN TÂM TINH TẤN, TỤNG
TRÌ NHƯ THỊ ĐÀ-LA-NI THẦN DIỆU CHƯƠNG CÚ, NGOẠI QUỐC OÁN ĐỊCH, TỨC TỰ HÀNG PHỤC,
CÁC HOÀN CHÍNH TRỊ, BẤT TƯƠNG NHIỄU NÃO, QUỐC THỔ TƯƠNG THÔNG, TỪ TÂM TƯƠNG HƯỚNG,
VƯƠNG TỬ BÁCH QUAN, GIAI HÀNH TRUNG XÍCH, PHI HẬU THỂ NỮ, HIẾU KÍNH HƯỚNG
VƯƠNG, CHƯ LONG QUỶ THẦN, ỦNG HỘ KỲ QUỐC, VŨ TRẠCH THUẬN THỜI, QUẢ THỰC PHONG
NHIÊU, NHÂN DÂN HOAN LẠC.
其王又能七日七夜,身心精進,誦持如是陀羅尼神妙章句。外國怨敵,即自降伏,各還政治,不相擾惱,國土通同,慈心相向。王子百官,皆行忠赤,妃后婇女,孝敬向王。諸龍鬼神,擁護其國。雨澤順時,果實豐饒,人民歡樂。
IF, MOREOVER, THE KING
CAN, WITH VIGOR OF MIND AND BODY, FOR SEVEN DAYS AND NIGHTS RECITE AND HOLD THE
WONDERFUL PHRASES OF THE DHARANI, THE FOREIGN INVADERS WILL SURRENDER OF THEIR
OWN ACCORD AND RETURN TO THEIR OWN DOMAIN, CAUSING NO FURTHER DISTURBANCE. THE
COUNTRIES WILL BE IN COMMUNICATION AND WILL HAVE FRIENDLY RELATIONS. THE
PRINCES AND OFFICIALS WILL BE LOYAL AND THE IMPERIAL CONCUBINES AND
LADIES-IN-WAITING WILL BE FAITHFUL AND RESPECTFUL TOWARDS THE KING. ALL
DRAGONS, GHOSTS, AND SPIRITS WILL PROTECT THE COUNTRY. THE RAIN WILL FALL IN
SEASON, THE CROPS WILL BE ABUNDANT, AND THE PEOPLE WILL BE HAPPY.
Nếu vị quốc vương đó
dùng thân tâm tinh tấn, đọc tụng chương cú thần diệu. Hành trì như thế đúng bảy
ngày thì nước giặc quy hàng, chánh tình yên ổn, lân bang hòa hảo, thương mến lẫn
nhau, trong triều từ vương tử cho đến trăm quan đều hết dạ trung thành, nơi
cung vi, phi tần, thể nữ khởi lòng hiếu kính đối với vua, các thiên, long, quỷ
thần đều ủng hộ trong nước khiến cho mưa gió thuận hòa, hoa quả tốt, nhân dân
vui đẹp.
HỰU NHƯỢC GIA NỘI NGỘ ĐẠI ÁC BỆNH, BÁCH QUÁI CẠNH KHỞI, QUỶ
THẦN TÀ MA HAO LOẠN KỲ GIA, ÁC NHÂN HOÀNH TẠO KHẨU THIỆT, DĨ TƯƠNG MƯU HẠI, THẤT
GIA ĐẠI TIỂU NỘI NGOẠI BẤT HÒA GIẢ, THƯỜNG HƯỚNG THIÊN NHÃN ĐẠI BI TƯỢNG TIỀN,
THIẾT KỲ ĐÀN TRÀNG, CHÍ TÂM NIỆM QUÁN THẾ ÂM BỒ-TÁT, TỤNG THỬ ĐÀ-LA-NI MÃN KỲ
THIÊN BIẾN, NHƯ THƯỢNG ÁC SỰ TẤT GIAI TIÊU DIỆT, VĨNH ĐẮC AN ẨN.
又若家內,遇大惡病,百怪競起,鬼神邪魔,耗亂其家,惡人橫造口舌以相謀害,室家大小內外不和者,當向千眼大悲像前,設其壇場,至心念觀世音菩薩。誦此陀羅尼,滿其千遍,如上惡事,悉皆消滅,永得安隱。
FURTHERMORE, IF A
HOUSEHOLD IS STRICKEN WITH A GRAVE ILLNESS, OR WITH TERRIFYING UNCANNY
OCCURRENCES, OR IF GHOSTS, SPIRITS, AND DEVIANT DEMONS TRY TO DESTROY THE
HOUSEHOLD, OR IF EVIL PEOPLE GOSSIP AND PLOT TO HARM THE HOUSEHOLD, CAUSING
DISHARMONY BETWEEN YOUNG AND OLD, BETWEEN THOSE WITHIN AND WITHOUT, THEN YOU
SHOULD ERECT A PLATFORM BEFORE A THOUSAND-EYED IMAGE OF THE GREATLY
COMPASSIONATE ONE, AND WITH A SINCERE HEART RECOLLECT THE BODHISATTVA WHO
REGARDS THE WORLD'S SOUNDS, AND RECITE THIS DHARANI A FULL ONE THOUSAND TIMES.
ALL SUCH EVIL OCCURENCES WILL BE ERADICATED, AND THERE WILL FOREVER BE PEACE
AND SECURITY.
Lại nếu trong nhà có những
tai nạn như ma quái nổi dậy, quyến thuộc đau nặng, tiền của hao mòn, gia đình rối
loạn, người ác gieo tiếng thị phi hoặc vu khống để hãm hại, cho đến trong ngoài
lớn nhỏ chẳng hòa thuận nhau. Muốn diệt những tai nạn ấy, gia chủ phải lập đàn
tràng, hướng về tượng Thiên Nhãn, chí tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và
tụng đà ra ni này đủ ngàn biến, thì tất cả việc xấu như trên thảy đều tiêu diệt,
gia đình được vĩnh viễn an vui.
A-NAN BẠCH PHẬT NGÔN: THẾ TÔN!
THỬ CHÚ DANH HÀ? VÂN HÀ THỌ TRÌ?
阿難白佛言:世尊!此呪名何?云何受持?
ANANDA SAID TO THE BUDDHA, WORLD HONORED ONE, WHAT IS THE MANTRA CALLED, AND HOW SHOULD WE ACCEPT AND HOLD IT?
Ngài A Nan lại bạch Phật rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Chú này tên gọi là
chi? Con nên thọ trì như thế nào?
PHẬT CÁO A-NAN: “NHƯ THỊ THẦN
CHÚ HỮU CHỦNG CHỦNG DANH:
NHẤT DANH QUẢNG ĐẠI VIÊN MÃN.
NHẤT DANH VÔ NGẠI ĐẠI BI.
NHẤT DANH CỨU KHỔ
ĐÀ-LA-NI.
NHẤT DANH DIÊN THỌ ĐÀ-LA-NI.
NHẤT DANH DIỆT ÁC THÚ ĐÀ-LA-NI.
NHẤT DANH PHÁ ÁC NGHIỆP CHƯỚNG
ĐÀ-LA-NI.
NHẤT DANH MÃN NGUYỆN ĐÀ-LA-NI.
NHẤT DANH TÙY TÂM TỰ TẠI
ĐÀ-LA-NI.
NHẤT DANH TỐC SIÊU THƯỢNG ĐỊA
ĐÀ-LA-NI.
NHƯ THỊ THỌ TRÌ.”
佛告阿難:「如是神呪有種種名。一名:廣大圓滿。一名:無礙大悲。一名:救苦陀羅尼。一名:延壽陀羅尼。一名:滅惡趣陀羅尼。一名:破惡業障陀羅尼。一名:滿願陀羅尼。一名:隨心自在陀羅尼。一名:速超上地陀羅尼。如是受持。」
THE BUDDHA SAID TO ANANDA, "SUCH A SPIRITUAL
MANTRA HAS VARIOUS NAMES.
1. IT IS CALLED 'VAST, GREAT, PERFECT, FULL;
2. IT IS ALSO CALLED 'UNOBSTRUCTED GREAT COMPASSION;
3. IT IS ALSO CALLED 'THE DHARANI OF RELIEVING SUFFERING;
4. IT IS ALSO CALLED 'THE DHARANI OF LENGTHENING
LIFE;
5. IT IS ALSO CALLED 'THE DHARANI OF ERADICATING THE
EVIL DESTINIES;
6. IT IS ALSO CALLED 'THE DHARANI OF DESTROYING EVIL KARMIC OBSTACLES;
7. IT IS ALSO CALLED 'THE DHARANI OF FULFILLING
ONE'S VOWS;
8. IT IS ALSO CALLED "THE DHARANI OF MASTERY
ACCORDING WITH THE HEART;
9. IT IS ALSO CALLED 'THE DHARANI OF QUICKLY
ASCENDING TO THE SUPERIOR LEVEL;
AND AS SUCH SHOULD YOU ACCEPT AND HOLD IT.
Đức Phật bảo: Thần chú này
có những tên như sau:
Quảng đại viên mãn đà ra
ni.
Vô ngại đại bi đà ra ni.
Cứu khổ đà ra ni.
Diên thọ đà rani.
Diệt ác thú đà ra ni.
Phá ác nghiệp chướng đà ra
ni.
Mãn nguyện đà ra ni.
Tùy tâm tự tại đà ra ni.
Tốc siêu thánh địa đà ra
ni.
Ông nên y như thế mà thọ
trì.
A-NAN BẠCH PHẬT NGÔN: “THẾ TÔN! THỬ BỒ-TÁT MA-HA-TÁT DANH TỰ HÀ ĐẲNG, THIỆN NĂNG TUYÊN THUYẾT NHƯ THỊ ĐÀ-LA-NI?”
阿難白佛言:「世尊!此菩薩摩訶薩,名字何等?善能宣說如是陀羅尼。」
ANANDA SAID TO THE BUDDHA, "WORLD HONORED ONE, WHAT IS THE NAME OF THIS BODHISATTVA, MAHASATTVA WHO IS WELL ABLE TO PROCLAIM SUCH A DHARANI?"
Ngài A Nan lại bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Vị Bồ Tát Ma Ha
Tát, bộ chủ của thần chú này, tôn hiệu là chi, mà khéo nói môn đà ra ni như thế?
PHẬT NGÔN: “THỬ BỒ-TÁT DANH QUÁN THẾ ÂM TỰ TẠI, DIỆC DANH NHIÊN SÁCH, DIỆC DANH THIÊN QUANG NHÃN.
佛言:此菩薩名觀世音自在,亦名撚索,亦名千光眼。
THE BUDDHA SAID, "THE
BODHISATTVA'S NAME IS “REGARDER OF THE WORLD'S SOUNDS IN COMFORT,” ALSO CALLED
“TWIRLING A LARIAT," AND ALSO CALLED “A THOUSAND BRIGHT EYES."
Đức Phật bảo: - "Vị Bồ Tát ấy hiệu là Quán Thế Âm Tự Tại, cũng tên là Nhiên Sách, cũng gọi là Thiên Quang Nhãn".
THIỆN NAM TỬ! THỬ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, BẤT KHẢ TƯ NGHỊ UY THẦN CHI LỰC,
DĨ Ư QUÁ KHỨ VÔ LƯỢNG KIẾP TRUNG, DĨ TÁC PHẬT CÁNH, HIỆU CHÁNH PHÁP MINH NHƯ
LAI, ĐẠI BI NGUYỆN LỰC, VI DỤC PHÁT KHỞI NHẤT THIẾT BỒ TÁT, AN LẠC THÀNH THỤC
CHƯ CHÚNG SANH CỐ, HIỆN TÁC BỒ TÁT.”
善男子!此觀世音菩薩,不可思議威神之力,已於過去無量劫中,已作佛竟,號『正法明如來』。大悲願力,為欲發起一切菩薩,安樂成熟諸眾生故,現作菩薩。
GOOD MAN, THE BODHISATTVA
WHO REGARDS THE WORLD'S SOUNDS HAS INCONCEIVABLE AWESOME SPIRITUAL MIGHT. IN
THE PAST, LIMITLESS AEONS AGO, HE HAD ALREADY BECOME A BUDDHA WITH THE NAME
“RIGHT DHARMA BRIGHTNESS THUS COME ONE.” THROUGH THE POWER OF HIS GREAT
COMPASSIONATE VOWS, HE WISHES TO CAUSE ALL BODHISATTVAS TO BRING PEACE, JOY,
AND MATURITY TO LIVING BEINGS."
- Này thiện nam tử! Quán
Thế Âm Bồ Tát thần thông oai lực không thể nghĩ bàn, trong vô lượng kiếp về trước
từng thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Vì nguyện lực đại bi, vì muốn
làm duyên phát khởi cho tất cả các hàng Bồ Tát, vì muốn an vui thành thục cho
chúng sanh, ngài mới giáng tích hiện làm Bồ Tát.
NHỮ ĐẲNG ĐẠI CHÚNG, CHƯ BỒ-TÁT MA-HA-TÁT, PHẠM THÍCH LONG THẦN,
GIAI ƯNG CUNG KÍNH, MẠC SANH KHINH MẠN. NHẤT THIẾT NHÂN THIÊN, THƯỜNG TU CÚNG
DƯỜNG, CHUYÊN XƯNG DANH HIỆU, ĐẮC VÔ LƯỢNG PHÚC, DIỆT VÔ LƯỢNG TỘI, MẠNG CHUNG
VÃNG SANH A-DI-ĐÀ PHẬT QUỐC.
汝等大眾、諸菩薩摩訶薩、梵、釋、龍、神,皆應恭敬,莫生輕慢。一切人天,常須供養。專稱名號,得無量福,滅無量罪,命終往生阿彌陀佛國。
GREAT ASSEMBLY, ALL BODHISATTVAS, MAHASATTVAS, BRAHMA, SHAKRA, DRAGONS, AND SPIRITS SHOULD REVERE HIM AND NOT LOOK UPON HIM LIGHTLY. PEOPLE AND GODS SHOULD ALWAYS MAKE OFFERINGS TO HIM AND SINGLEMINDEDLY RECITE HIS NAME IN ORDER TO OBTAIN LIMITLESS BLESSINGS, TO ERADICATE LIMITLESS OFFENSES, AND TO BE REBORN AT THE END OF LIFE IN THE LAND OF AMITABHA BUDDHA.
Vậy ông và đại chúng, các
hàng Bồ Tát, Ma Ha Tát, Phạm vương, Đế Thích, Long thần đều nên cung kính, chớ
sanh lòng khinh mạn, xem thường. Nếu tất cả hàng trời, người thường xưng niệm,
cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, sẽ được vô lượng phước diệt vô lượng tội , mạng
chung sanh về cõi nước của Phật A Di Đà.
Phật
cáo A nan, thử Quán Thế Âm bồ tát sở thuyết thần chú, chân thật bất hư, nhược dục
thỉnh thử Bồ Tát lai, chú chuyết cụ la hương tam thất biến thiêu, bồ tát tức
lai. (Chú: Chuyết cụ la
hương, an tức hương dã.)
佛告阿難。此觀世音菩薩所說神咒。真實不虛。若欲請此菩薩來。咒拙具羅香三七遍燒。菩薩即來。(註:拙
具羅香。安息香也。)
THE BUDDHA TOLD ANANDA,
"THE SPIRITUAL MANTRA SPOKEN BY THE BODHISATTVA WHO REGARDS THE WORLD'S
SOUNDS IS TRUE, REAL, AND NOT FALSE. IF YOU WISH THE BODHISATTVA TO VISIT, YOU
SHOULD SAY THE MANTRA OVER KUKURA INCENSE TWENTY-ONE TIMES, AND THE BODHISATTVA
WILL COME FOR A VISIT.
Đức Phật bảo ngài A Nan:
- Thần chú của Quan Thế Âm Bồ Tát nói
ra đây, chân thật không dối.
* Nếu muốn thỉnh Bồ Tát đến,
nên tụng chú vào hương chuyết cụ la 21 lần rồi đốt lên. (chuyết cụ la chính là an tức hương)
Nhược
hữu miêu nhi sở trước giả, thủ nhị lý tra na, thiêu tác hôi, hòa tịnh độ nê, niệp
tác miêu nhi hình, ư thiên hình tượng tiền, chú tấn thiết đao tử nhất bách bát
thiên, đoạn đoạn cát chi, diệc nhất bách bát đoạn, biến biến nhất chú, nhất xưng
bỉ danh, tức vĩnh sai bất trước. (Chú:
nhị lý tra na, Tử miêu nhi đầu cốt dã.)
若有貓兒所著者。取弭哩吒那。燒作灰。和淨土泥。捻作貓兒形。於千眼像前。咒鑌鐵刀子一百八遍。段段割
之。亦一百八段。遍遍一咒。一稱彼名。即永差不著。(註:弭哩吒那。死貓兒頭骨也。)
IF YOU BECOME POSSESSED BY
A CAT, TAKE MI LI CHA NO AND BURN IT TO ASHES. MIX THE ASHES
WITH CLEAN MUD AND MOLD THEM INTO THE SHAPE OF A CAT. BEFORE A THOUSAND-EYED
IMAGE MANTRA A FINE QUALITY STEEL KNIFE 108 TIME AND YOU SLICE THE STATUE INTO
108 SECTIONS, SAYING THE MANTRA ONCE OVER EACH SLICE. CALL THE CAT'S NAME ONCE
AND IT WILL LEAVE AND NEVE RETURN AGAIN. (MI LI CHA NO IS THE SKULL DEAD CAT.)
* Nếu kẻ nào bị loài ma
mèo dựa vào phá khuấy, người thân thuộc nên tìm một bộ xương của con mèo đã chết,
đốt tan ra tro, rồi hòa với đất bùn sạch, nắn thành hình mèo. Khi hoàn thành để
hình ấy trước tượng Thiên Nhãn, tụng 108 biến chú Đại Bi vào lưỡi dao rồi chặt
hình mèo thành 108 đoạn. Nên nhớ cứ mỗi lần tụng xong một biến thì chém xuống một
đao, kêu tên loài ma mèo một lần. Làm như thế bịnh nhơn sẽ an lành, ma mèo vĩnh
viễn không dám phá hoại.
Nhược
vi cổ độc sở hại giả, thủ dược kiếp bố la, hòa chuyết cụ la hương, các đẳng
phân, dĩ tỉnh hoa thủy nhất thăng, hoa tiễn, thủ nhất thăng, ư thiên nhãn tượng
tiền, chú nhất bách bát biến phục, tức sái. (Chú:
Dược kiếp bố la: Long não hương dã).
若為蠱毒所害者。取藥劫布羅。和拙具羅香。各等分。以井華水一升。和煎。取一升。於千眼像前。咒一百八
遍服。即差。(註:藥劫布羅。龍腦香也。)
IF POISONED WITH MEDIUMISTIC
INSECTS“KU” YOU SHOULD
MIX YAQ CHIEH PU LO WITH AN EQUAL PORTION OF KUKURA INCENSE.
ADD A PINT OF WELL-FLOWER WATER AND DECOCT THE MIXTURE UNTIL ONE PINT REMAINS.
MANTRA THE MIXTURE 108 TIMES BEFORE A THOUSAND-EYED IMAGE AND THE POISON WILL
BE EXPELLED. (YAQ CHIEH PU LO IS DRAGON BRAIN
INCENSE.)
* Nếu người nào bị chất độc
của loài sâu cổ làm hại, thì thân nhơn mau dùng hương dược kiếp bố la hòa đồng
phân với chuyết cụ la hương vào nước trong, sắc còn một chén. Xong, lại để chén
thuốc ấy trước tượng Thiên Nhãn tụng chú 108 biến rồi cho bịnh nhơn uống, liền
thấy an lành (dược kiếp bố la hương tức
Long não hương).
Nhược
vị độc xà, hiết sở thích giả, thủ càn gương mạt, chú nhất thất biến, trước sang
trúng, lập tức trừ sai.
若為惡蛇蠍所螫者,取乾薑末,呪一七遍,著瘡中,立即除差。
IF YOU ARE BITTEN BY
POISONOUS SNAKES OR SCORPIONS, SAY THE MANTRA SEVEN TIMES OVER
POWDERED DRY GINGER, PLACE IT ON THE BITE, AND THE POISON WILL BE IMMEDIATELY
EXPELLED.
* Nếu bị rắn rít cắn, dùng
vị Càn cương tán thành mạt, tụng chú vào đấy 21 biến, rồi đấp lên vết thương,
liền hết.
Nhược
vị ác oán hoành tướng mưu hại giả, thủ tịnh độ, hoặc miến, hoặc chá, niêm tác bổn
hình, ư thiên nhãn tượng tiền, chú tấn thiết đao nhất bách bát biến, nhất chú
nhất tiệt, nhất xưng bỉ danh, thiêu tận nhất bách bát đoạn, bỉ tức hoan hỷ,
chung thân hậu trọng tương ái kính.
若為惡怨橫相謀害者,取淨土、或麵、或蠟,捻作本形,於千眼像前,呪鑌鐵刀一百八遍,一呪一截,一稱彼名,燒盡一百八段,彼即歡喜,終身厚重,相愛敬。
IF, OUT OF HATE AND
RESENTMENT, SOMEONE PLOTS TO HARM YOU, YOU SHOULD MOLD AN IMAGE OF THE PERSON
OUT OF CLEAN EARTH, FLOUR, OR WAX. BEFORE A THOUSAND-EYED IMAGE, SAY THE MANTRA
108 TIMES OVER A STEEL KNIFE OF FINE QUALITY. SLICE THE STATUE INTO 108 PIECES
AS YOU RECITE THE MANTRA ONCE OVER EACH SLICE. AFTER EACH SLICE, CALL THE NAME
OF THE PERSON WHO WISHES TO HARM YOU. BURN ALL 108 SLICES. THAT PERSON WILL BE
DELIGHTED AND WILL RESPECT YOU UNTIL THE END OF HIS LIFE.
* Nếu bị kẻ thù mưu hại,
nên dùng đất sạch, hoặc bột, hoặc sáp, nắn thành hình kẻ ấy. Xong, lại để hình
nhơn trước tượng Thiên Nhãn, tụng vào lưỡi dao 108 biến Đại Bi, cứ tụng xong mỗi
biến lại chém xuống một dao, kêu tên người kia một lần, rồi đem 108 đoạn hình
đã chặt đốt tan. Y theo pháp thức như thế, kẻ oan gia thù nghịch sẽ đổi ra trạng
thái vui vẻ, thân hậu đối với ta, trọn đời đôi bên quý mến lẫn nhau.
Nhược
hữu hoạn nhãn tình hoại giả, nhược thanh mân nhãn ám giả, nhược bạch vựng xích
mạc vô quang minh giả. Thủ ha lê lặc quả, am ma lặc quả, bính hề lặc quả, tam
quả các nhất khỏa, đảo phá tế nghiên, đương nghiên thời. Duy tu hộ tịnh, mạc sử
tân sản phụ nhân cấp trư cẩu kiến, khẩu trung niệm Phật, dĩ bạch mật nhược nhũ
chấp hòa, phong nhãn trung trước, kỳ nhân nhũ, yếu tu nam hài tử mẫu nhủ, nữ mẫu
nhủ bất thành.
若有患眼睛壞者,若青盲眼暗者,若白暈、赤膜,無光明者,取訶梨勒果、菴摩勒果、鞞醯勒果,三種各一顆,擣破細研。當研時,唯須護淨,莫使新產婦人及猪、狗見。口中念佛,以白蜜、若人乳汁,和封眼中。著其人乳,要須男孩子母乳,女母乳不成。
IF YOUR EYES GO BAD SO THAT YOU ARE AFFECTED BY
DIMMED VISION OR BLINDNESS, OR IF PERHAPS YOUR EYES BECOME COVERED BY A WHITE
HAZE OR A RED FILM, YOU SHOULD GRIND TO A FINE POWDER ONE HARITAKI FRUIT, ONE
AMALA FRUIT, AND ONE P’I HSI LEI FRUIT. WHILE GRINDING THEM, YOU SHOULD RECITE
THE BUDDHA'S NAME AND YOU SHOULD GUARD THEIR PURITY BY NOT ALLOWING EITHER
WOMEN WHO HAVE JUST GIVEN BIRTH OR PIGS OR DOGS TO SEE THE MIXTURE. THEN MIX
THE POWDER WITH WHITE HONEY OR HUMAN MILK AND PLACE IT IN YOUR EYES. THE HUMAN
MILK MUST BE THAT OF A MOTHER WHO HAS GIVEN BIRTH TO A MALE CHILD. THE MILK
FROM THE MOTHER OF A FEMALE CHILD WILL NOT WORK.
* Nếu bị bịnh đau mắt, hoặc
mắt kéo màng đỏ, mắt trắng đục, hoặc quáng manh, hoặc hư tròng, không thấy được
ánh sáng, nên dùng trái ha lê lặc, trái am ma lặc, trái bệ hê lặc, mỗi thứ một
quả, đem nghiền, vắt lấy nước. Khi vắt nước nên ở chỗ vắng lặng, giữ cho sạch sẽ,
miệng luôn niệm Phật, chớ để cho mèo, chó, gà, lợn cùng đàn bà mới sanh thấy. Vắt
nước xong đem hòa với bạch mật, hoặc sữa người. Sữa này phải là của phụ nhơn
sanh con trai, chứ không được dùng sữa của người sanh con gái.
Kỳ
nhược hòa cánh, hoàn tu thiên nhãn tượng tiền, chú nhất bách bát thiên, trước
nhãn trung mãn thất nhật. Tại thâm thất thận phong, nhãn thanh hoàn sanh, thanh
mân bạch vựng giả, quang kỳ thạnh dã.
其藥和竟,還須千眼像前,呪一千八遍,著眼中,滿七日,在深室慎風,眼睛還生。青盲、白暈者,光奇盛也。
AFTER MIXING THE MEDICINE, YOU SHOULD GO BEFORE A
THOUSAND-EYED IMAGE AND SAY THE MANTRA OVER THE MEDICINE 108 TIMES. PLACE IT IN
THE EYES FOR A FULL SEVEN DAYS WHILE REMAINING IN A QUIET ROOM AND TAKING CARE
TO AVOID DRAFTS. YOUR EYESIGHT WILL BE RESTORED AND THE WHITE HAZE AND RED FILM
WILL DEPART, LEAVING THE EYESIGHT EVEN CLEARER THAN BEFORE.
Khi hòa thành xong, đem
chén thuốc để trước tượng Thiên Nhãn tụng chú 108 biến. Trì chú vào thuốc rồi,
bịnh nhơn phải ở nơi nhà kín, tránh gió trong thời gian bảy ngày và dùng thuốc ấy
nhỏ vào mắt. Làm như thế, tròng con mắt hư lại sanh, các chứng kia đều lành. Mắt
thấy được tỏ rõ. (P.C:
Ba thứ trái này xứ ta không có, bịnh nhơn nên phương tiện thay ba thứ trái khác
hoặc ba thứ thuốc khác có tánh cách trị bịnh đau mắt, nếu như chí thành, cũng
được linh nghiệm)
Nhược
hoạn ngược bệnh giả, thủ hổ báo lang bì, chú tam thất biến, phi trước thân thượng,
tức sai, sư tử bì tối thượng.
若患瘧病著者,取虎、豹、犲、狼皮,呪三七遍,披著身上,即差。師子皮最上。
IF YOU ARE AFFLICTED BY
RECURRENT FEVERS, YOU SHOULD SAY THE MANTRA TWENTY- ONE TIMES OVER THE SKIN OF
A TIGER, PANTHER, OR WOLF. PLACE THE SKIN ON YOUR BODY AND THE FEVER WILL BE
EXPELLED. THE SKIN OF A LION IS BEST.
* Nếu bị bịnh rét hoặc bị
loài ma rét dựa, nên dùng da cọp hoặc da beo tụng vào đấy 21 biến chú, rồi phủ
lên mình thì bịnh sẽ lành, ma cũng xa lánh. Như được da sư tử thì càng quý.
Nhược
bị xà thích, thủ bị thích nhân kết ninh, chú tam thất biến, trước thương trung,
tức sai, (chú:
Ninh tức Nhĩ trung cấu dã.)
若被蛇螫,取被螫人結聹,咒三七遍,著瘡中,即差。(註:聹,耳中垢也。)
IF SOMEONE IS BITTEN BY A
POISONOUS SNAKE, YOU SHOULD SAY THE MANTRA TWENTY-ONE TIMES OVER A PIECE OF THE
EAR-WAX OF THE PERSON BITTEN, PLACE THE WAX IN THE SORE, AND THE POISON WILL BE
EXPELLED.
* Nếu bị rắn độc cắn, dùng
chất ráy đóng trong lỗ tai của người bị cắn, tụng chú 21 biến, thoa vào vết
thương, nọc rắn liền tiêu.
Nhược
hoạn ác ngược nhập tâm, muộn tuyệt dục tử giả, thủ đào giao nhất quả, đại tiểu
diệc như đào quả, thanh thủy nhất thăng hòa, tiễn thủ bán thăng, chú thất biến,
đốn báo tận, tức sai. Kỳ dược mạc sử phụ nhân tiễn.
若患惡瘧,入心悶絕欲死者,取桃膠一顆,大小亦如桃顆,清水一升和煎,取半升,呪七遍,頓服盡,即差。其藥莫使婦人煎。
SHOULD AN EVIL FEVER ENTER YOUR HEART SO THAT YOU
ARE MELANCHOLY TO THE POINT OF WISHING TO DIE, YOU SHOULD MIX A LUMP OF
PEACH-GUM ABOUT THE SIZE OF A PEACH PIT WITH ONE PINT OF PURE WATER, AND THEN
DECOCT THE MIXTURE UNTIL ONLY ONE HALF PINT REMAINS, MANTRA IT SEVEN TIMES AND
SWALLOW IT ALL IN ONE GULP, AND THE SICKNESS WILL BE EXPELLED. DO NOT ALLOW A
WOMAN TO DECOCT THE MEDICINE.
* Nếu bị bịnh rét dữ nhập
tâm, hôn muội sắp chết, dùng một khối mủ cây đào, lớn ước lượng bằng trái đào,
đem hòa với một chén nước trong, sắc còn nửa chén, tụng chú vào đấy bảy biến rồi
uống, bịnh sẽ lành. Thuốc này chớ cho phụ nữ sắc.
Nhược
hoạn truyền thi quỷ khí, phục thi liên bệnh giả, thủ chuyết cụ la hương, chú
tam thất biến, thiêu huân tỷ khổng trung, hựu thủ thất hoàn như thỏ phân, chú
tam thất biến thôn, tức sai, thận tửu nhục ngũ tân cập ác mạ.
若患傳屍鬼氣、伏屍連病者,取拙具羅香,呪三七遍,燒熏鼻孔中。又取七丸如兔糞,呪三七遍,吞,即差。慎酒肉五辛及惡罵。
SHOULD THERE OCCUR THE “TRANSMISSION OF THE CORPSE” OR THE “SICKNESS OF CONTROLLING THE CORPSE,” YOU SHOULD SAY THE MANTRA OVER KUKURA INCENSE TWENTY-ONE TIMES AND BURN IT BENEATH YOUR NOSTRILS. YOU SHOULD FURTHER FASHION THE INCENSE INTO SEVEN PILLS THE SIZE OF RABBIT DROPPINGS, MANTRA THEM TWENTY-ONE TIMES, SWALLOW THEM, AND YOU WILL BE CURED. TAKE CARE NOT TO DRINK LIQUOR OR EAT MEAT OR THE FIVE PUNGENT PLANTS, AND NOT TO USE ABUSIVE LANGUAGE.
* Nếu bị loài quỷ truyền
thi, phục thi làm bịnh, dùng hương chuyết cụ la tụng chú 21 biến, đốt xông vào
lỗ mũi. Lại lấy bảy khối hương lớn ước lượng bằng lóng tay cái, cũng gia trì
chú 21 biến mà uống, bịnh sẽ lành. Nên nhớ: Bịnh nhơn phải kiêng rượu, thịt,
ngũ vị tân (58) và mắng chửi.
Nhược thủ ma na hi la, hòa bạch giới tử, ấn thành diêm, chú tam thất biến, ư bệnh nhi sàng hạ thiêu. Kỳ tác bệnh nhi, tức ma xế bính tẩu, bất cảm trú dã. (Chú: Ma Na Hi La Hùng Hoàng thị dã).
若取摩那屎羅,和白芥子印成鹽,呪三七遍,於病兒床下燒,其作病兒,即魔掣迸走,不敢住也。(註:摩那屎羅,雄黃是也)
IF YOU MIX MANAHSHILA WITH
WHITE MUSTARD SEEDS AND YIN CH’ ENG SALT, MANTRA IT TWENTY-ONE
TIMES, AND BURN IT BENEATH THE SUFFERER'S BED; WHAT CAUSES THE SICKNESS WILL
QUICKLY FLEE.
Một phương pháp nữa là
dùng vị Ma Na Thi La hòa với Bạch giới tử và muối hột, gia trì chú 21 biến, rồi
đem xông đốt dưới giường người bịnh, quỷ liền vội vã trốn chạy, không dám ở. (Ma Na Thi La là vị thuốc Hùng Hoàng)
Nhược
hoạn nhĩ lung giả, chú hồ ma du trước nhĩ trung, tức sai.
若患耳聾者,呪胡麻油,著耳中,即差。
IF YOU BECOME DEAF, SAY THE MANTRA OVER SESAME OIL,
PUT IT ON THE EAR AND YOU WILL BE CURED.
* Nếu bị tai điếc lùng
bùng, tụng chú vào dầu mè, rồi nhỏ trong tai, bịnh sẽ lành.
Nhược
hoạn nhất biên thiên phong, nhĩ tỷ bất thông, thủ khước bất tùy giả, thủ hồ ma
du, tiễn thanh mộc hương, chú tam thất biến, ma thức thân thượng, vĩnh đắc trừ
sai, hựu phương, thủ thuần ngưu tô, chú tam thất biến ma, diệc sai.
若患一邊偏風,耳鼻不通、手脚不隨者,取胡麻油,煎青木香,呪三七遍,摩拭身上,永得除差。又方取純牛酥,呪三七遍,摩,亦差。
IF YOU BECOME PARALYZED ON ONE SIDE YOUR BODY SO
THAT YOUR NOSE IS BLOCKED AND YOUR HANDS AND FEET WON'T MOVE, DECOCT SESAME OIL
AND GREEN WOOD INCENSE, MANTRA IT TWENTY-ONE TIMES, RUB IT ON YOUR BODY, AND
YOU WILL FOREVER BE CURED.
* Nếu bị chứng thiên
phong, xụi nửa thân mình, tai điếc, mũi không biết mùi, dùmg dầu mè sắc với vị
Thanh Mộc Hương, gia trì chú 21 biến, rồi thoa nơi mình. Bịnh sẽ vĩnh viễn tiêu
trừ. Lại một phương pháp nữa: dùng sữa ngưu tô thuần chất, tụng vào 21 biến chú
mà thoa, bịnh cũng sẽ lành.
Nhược
hoạn nan sản giả, thủ hồ ma du, chú tam thất biến, ma sản phụ tề trung, cập ngọc
môn trung, tức dị sanh.
若患難產者,取胡麻油,呪三七遍,摩產婦臍中及玉門中,即易生。
IF A WOMAN IS UNDERGOING DIFFICULT LABOR, MANTRA SESAME OIL TWENTY-ONE TIMES, RUB IT ON THE NAVEL AND THE “JADE DOOR," AND SHE WILL GIVE BIRTH EASILY.
* Nếu phụ nhơn sanh sản
khó, mau dùng dầu mà gia trì chú 21 biến, rồi thoa nơi rún và ngọc môn, liền được
dễ sanh.
Nhược
phụ nữ hoài nhâm, tử tức phục trung, thủ a ba mộc lợi gia thảo nhất đại lượng,
thanh thủy nhị thăng hòa, tiễn thủ nhất thăng, chú tam thất biến phục, tức xuất,
nhất vô khổ thống, thai y bất xuất giả, diệc phục thử dược, tức sai. (Chú: A ba mộc lợi gia thảo. Ngưu tất thảo dã)
若婦人懷妊,子死腹中,取阿波末利伽草一大兩,清水二升和煎,取一升,呪三七遍,服,即出一,無苦痛。胎衣不出者,亦服此藥,即差。(註:阿波木利伽草,牛膝 草也。)
SHOULD THE CHILD OF A PREGNANT WOMAN DIE IN HER
WOMB, MIX A LARGE OUNCE OF A PO MU LI CH’IEH GRASS WITH TWO
PINTS OF PURE WATER; DECOCT THEM UNTIL ONE PINT REMAINS. MANTRA THE MIXTURE
TWENTY-ONE TIMES, HAVE THE WOMAN SWALLOW IT AND THE FOETUS WILL EMERGE WITHOUT
ANY PAIN TO THE MOTHER. IF THE PLACENTA DOES NOT COME OUT, GIVE HER THE
MEDICINE AGAIN AND THE PLACENTA WILL EMERGE AND THE WOMAN WILL BE WELL. (A PO HULL CH’IEH GRASS IS “OX KNEE”
GRASS.)
* Nếu phụ nhơn có nghén,
thai nhi chết trong bụng, dùng một lượng thuốc A Ba Mộc Lợi Đà, đổ hai chén sắc
còn một chén, gia trì chú 21 biến mà uống, thì cái thai liền ra, phụ nhơn không
một chút đau đớn. Như thai y (nhau) không ra, cũng uống thuốc này (A ba mộc lợi đà là vị Ngưu Tất).
Nhược
tốt hoạn tâm thống bất khả nhận giả, danh độn thi chú, thủ quân trụ lỗ hương,
nhũ đầu thành giả nhất khỏa, chú tam thất biến, khẩu trung tước yết, bất hạn đa
thiểu, lịnh biến thổ, tức sai, thận ngũ tân tửu nhục. (Chú: quân trụ lỗ hương: huân lục hương dã.)
若卒患心痛不可忍者,名遁屍疰,取君柱魯香,乳頭成者一顆,呪三七遍,口中嚼咽,不限多少,令變吐,即差。慎五辛、酒肉。(註:君柱魯香,薰陸香也。)
IF YOU SHOULD SUDDENLY BE STRUCK WITH AN UNBEARABLE
PAIN IN THE HEART, THIS IS CALLED TUN SHIH CHU.12 MANTRA ONE
NIPPLESHAPED PIECE OF CHUN CHU LU INCENSE TWENTY-ONE TIMES.
CHEW IT AND SWALLOW THE JUICE. THERE IS NO LIMIT TO HOW MUCH OR HOW LITTLE YOU
MAY TAKE. THIS WILL CAUSE DIARRHEA AND VOMITING, AND YOU WILL BE CURED. TAKE
CARE NOT TO EAT ANY OF THE FIVE PUNGENT PLANTS, NOT TO DRINK WINE, AND NOT TO
EAT MEAT. (CHON CHU LU INCENSE IS HSUN LU 13 INCENSE.)
* Nếu bỗng nhiên đau nhói
nơi tim chịu không kham, đây gọi là chứng độn thi chú, nên dùng hương Quân Trụ
Lỗ, tụng chú vào 21 biến, rồi để trong miệng nhai nuốt không hạn nhiều ít, chừng
nào mửa được mới thôi, y như thế bịnh sẽ lành, song nên nhớ phải cữ ngũ tân và
rượu thịt (quân trụ lỗ là vị thuốc
Huân Lục Hương).
Nhược
bị hỏa thiêu sang, thủ nhiệt cù ma di, chú tam thất biến, đồ sang thượng, tức
sai. (Chú: nhiệt cù ma
di, điểu ngưu thi)
若被火燒瘡,取熱瞿摩夷,呪三七遍,塗瘡上,即差。(註:熱瞿摩夷。烏牛屎也。)
IF YOU ARE BURNED BY A FIRE, SAY THE MANTRA OVER
FRESH GOMATI TWENTY- TIMES, SMEAR IT ON THE SORES, AND YOU WILL BE HEALED. (GOMATI IS THE EXCREMENT OF BLACK COW.)
* Nếu bị phỏng lửa thành
ghẻ, dùng phân trâu đen tụng chú 21 biến mà thoa, bịnh sẽ lành.
Nhược
hoạn hồi trùng giảo tâm, thủ cốt lỗ mộc già bán thăng, chú tam thất biến phục,
tức sai, trọng giả nhất thăng, trùng như lệ sách chu lai. (Chú: Cốt lỗ mộc già, bạch mã niệu dã).
若患蛔蟲齩心,取骨魯末遮半升,呪三七遍,服,即差。重者一升,蟲如綟索出來。。(註:骨魯木遮,白馬尿也)
IF ONE'S HEART IS BITTEN BY A “HUI” WORM, MANTRA ONE HALF PINT OF KU MU LU CHE SWALLOW IT, AND YOU WILL BE CURED. IF THE ILLNESS IS SEVERE, TAKE A FULL PINT, AND THE WORMS WILL COME OUT, EACH BITING THE TAIL OF THE NEXT, LIKE A ROPE. (KU MU LU CHE IS THE URINE OF A WHITE HORSE.)
* Nếu bị sên lải cắn, dùng
nửa chén nước tiểu con ngựa kim, như bịnh nặng thì một chén, gia trì chú 21 biến,
uống vào loài trùng sẽ quyện ra như sợi dây.
Nhược
hoạn đinh sang giả, thủ lăng tiêu diệp, giã thủ trấp, chú tam thập biến, lịch
trước sang thượng, tức bạt căn xuất, lập sai. (Chú:
Lăng Tiêu Diệp tức Tử Oai diệp.)
若患丁瘡者,取凌霄葉擣取汁,咒三七遍,瀝著瘡上,即拔根出,立差。(註:凌霄葉,即紫葳葉。)
IF YOU HAVE “NAIL” SORES, POUND OUT THE JUICE OF LING HSIAO LEAVES AND MANTRA IT TWENTY-ONE TIMES. DROP IT ON THE SORE AND PULL THE SORE OUT BY THE ROOT AND YOU WILL BE CURED IMMEDIATELY.
* Nếu bị bịnh ghẻ đinh dùng lá Lăng Tiêu đâm lấy nước, gia trì chú 21 biến mà thoa, thì ghẻ liền ra cồi mà lành.
Nhược
hoạn nhăng thích nhãn trung, cốt lỗ hằng khiếp lự thủ trấp, chú tam thất biến,
dạ ngọa trước nhãn trung, tức sai. (Chú:
Cốt lỗ hằng khiếp, tân lư thi dã)
若患蠅螫眼中,骨魯怛佉濾取汁,呪三七遍,夜臥著眼中,即差。(註:骨魯怛怯。新驢屎也。)
IF YOUR EYES SHOULD BE BITTEN POISONOUS FLIES,
STRAIN OFF THE JUICE OF KU LU TAN CH’UEH AND MANTRA IT
TWENTY-ONE TIMES. PUT IT IN THE EYES AT NIGHT WHEN YOU LIE DOWN TO SLEEP AND
YOU WILL CURED. (KU LU TAN
CH’UEH IS FRESH DONKEY DUNG.)
* Nếu rủi bị con lằn cắn
vào mắt, dùng phẩn mới của con lừa, vắt lấy nuớc, gia trì 21 biến chú, đợi ban
đêm trước khi ngủ, nhỏ thuốc ấy vào, bịnh sẽ lành.
Nhược
hoạn phúc trung thống, hòa tỉnh hoa thủy, hòa ấn thành diêm tâm thất khỏa, chú
tam thất biến, phục bán thăng, tức sai.
若患腹中痛,和井華水,和印成鹽三七顆,呪三七遍,服半升,即差。
IF YOU HAVE INTERNAL PAIN, MIX TWENTY-ONE PIECES
OF YIN CH’ENG SALT WITH A PINT OF WELL-FLOWER WATER. MANTRA IT
TWENTY-ONE TIMES, DRINK HALF A PINT, AND YOU WILL BE CURED.
* Nếu bị đau bụng, dùng nước
giếng trong nấu với 21 hột muốn lớn, còn nửa chén gia trì chú 21 biến uống vào,
liền hết đau.
Nhược
hoạn xích nhãn giả, cấp nhãn trung hữu nỗ nhục, cấp hữu ế giả, thủ xa xa di diệp,
đảo lư thủ trấp, chú tam thất biến, tẩm thanh tiền nhất túc, cánh chú thất biến,
trước nhãn trung, tức sai. (Chú:
Xa xa di diệp, câu kỷ diệp dã.)
若患赤眼者,及眼中有努肉及有翳者,取奢奢彌葉,擣濾取汁,呪三七遍,浸青錢一宿,更呪七遍,著眼中,即差。(註:奢奢彌葉,枸杞葉也。)
IF YOU ARE AFFLICTED BY RED EYES, FLESHY GROWTHS IN
THE EYES, OR A FILM WHICH COVERS THEM, GRIND AND STRAIN THE JUICE FROM THE
LEAVES OF THE SHAMI,AND SAY THE MANTRA OVER IT TWENTY-ONE TIMES. SOAK A GREEN
COPPER COIN IN THE JUICE OVERNIGHT. SAY THE MANTRA OVER IT SEVEN MORE TIMES,
PUT IT IN THE EYES, AND YOU WILL BE CURED. (SHAMI
LEAVES ARE KOU CHI LEAVES)
* Nếu bị bịnh đau mắt đỏ,
mắt lồi thịt, mờ mịt không thấy, dùng lá xa xa di đâm lược lấy nước, gia trì
chú 21 biến, rồi bỏ đồng tiền có meo xanh vào ngâm một đêm. Xong lại lấy ra, tụng
thêm vào đấy bảy biến chú nữa. Dùng thuốc này nhỏ vào mắt, bịnh sẽ lành (Xa xa di là lá câu kỷ).
Nhược
hoạn úy dạ bất an, khủng bố xuất nhập kính phạ giả, thủ bạch tuyền tác sách,
chú tam thất biến, tác nhị thập nhất kiết, hệ hạng, khủng bố tức trừ, phi đản
trừ bố, diệc đắc diệt tội.
若患畏夜,不安恐怖,出入驚怕者,取白線作索,呪三七遍,作二十一結,繫項,恐怖即除。非但除怖,亦得滅罪。
IF YOU ARE AFRAID AT NIGHT AND NOT AT PEACE, TO THE
POINT OF BEING FRIGHTENED TO COME OR GO, FASHION A CORD OUT OF WHITE THREADS
AND SAY THE MANTRA OVER IT TWENTY-ONE TIMES AS YOU TIE IT INTO THENTY-ONE
KNOTS. TIE IT AROUND YOUR NECK AND YOUR FEAR WILL BE DISPELLED. NOT ONLY WILL
YOUR FEAR BE DISPELLED, BUT YOUR OFFENSES WILL BE ERADICATED.
* Nếu người có tật ban đêm
sợ hãi ra vào không yên, lấy chỉ trắng xe thành niệt, gia trì chú 21 biến, kết
thành 21 gút buộc nơi cổ, thì tật ấy sẽ dứt. Chẳng những trừ được sự khủng bố
mà cũng diệt được tội.
Nhược
gia nội hoành khởi tai nạn giả, thủ thạch lựu chi, thốn tiệt nhất thiên bát đoạn,
lưỡng đầu đồ tô lạc mật, nhất chú thiêu, tận thiên bát biến, nhất thiết tai nạn,
tất giai trừ diệt, yếu tại Phật tiền tác chi.
若家內橫起災難者,取石榴枝,寸截一千八段,兩頭塗酥酪蜜,一呪一燒,盡千八遍,一切災難悉皆除滅,要在佛前作之。
IF YOUR HOUSEHOLD IS BESET WITH ACCIDENTS, CALAMITIES, OR DIFFICULTIES, YOU SHOULD CUT A POMEGRANATE BRANCH INTO 1,080 PIECES. SMEAR BOTH ENDS OF EACH PIECE WITH BUTTER AND HONEY. RECITE THE MANTRA ONCE OVER EACH PIECE AND BURN IT. BURN ALL 1,080 PIECES IN THIS WAY, AND ALL CALAMITIES AND DIFFICULTIES WILL BE ERADICATED. THIS SHOULD BE DONE BEFORE A BUDDHA-IMAGE.
* Nếu trong nhà sanh nhiều
tai nạn, dùng nhánh cây thạch lựu chặt thành 1.080 đoạn ước độ một tấc, mỗi đoạn
hai đầu đều thoa mật tô lạc. Kế đó, đem lò nhỏ để trước bàn Phật, cứ tụng xong
một biến chú, liền đốt một đoạn. Khi thiêu hết 1.080 đoạn, tất cả tai nạn thảy
đều tiêu trừ.
Nhược
thủ bạch xương bồ, chú tạm thất biến, hệ trước hữu tị thượng, nhất thiết đấu xứ,
luận nghĩa xứ, giai đắc thắng tha.
若取白菖蒲,呪三七遍,繫著右臂上,一切鬪處、論義處,皆得勝他。
IF YOU MANTRA CALAMUS TWENTY-ONE TIMES AND TIE IT TO
YOUR RIGHT ARM, YOU WILL BE VICTORIOUS IN ALL BATTLES AND DEBATES.
* Nếu ở các nơi đấu tranh,
luận nghị, muốn được hơn người dùng cành bạch xương bồ gia trì chú 21 biến, đeo
nơi cánh tay mặt, tất sẽ được toại nguyện.
Nhược
thủ xa xa di diệp, câu kỷ thốn tiệt, lưỡng đầu đồ chân ngưu tô, bạch mật ngưu
tô, nhất chú nhất thiêu, tận nhất bát đoạn, nhật biệt tam thời, thời biệt nhất
thiên bát thiên, mãn thất nhật, chú sư tự ngộ thông trí huệ dã.
若取奢奢彌葉枝柯,寸截,兩頭塗真牛酥、白蜜牛酥,一呪一燒,盡一千八段,日別三時,時別一千八遍,滿七日,呪師自悟通智也。
TAKE SHAMI LEAVES, BRANCHES, OR STALKS, CUT THEM
INTO INCH-LONG PIECES AND SMEAR BOTH ENDS OF EACH PIECE WITH REAL BUTTER AND
WHITE HONEY. MANTRA EACH PIECE ONCE AS YOU BURN EACH PIECE, BURNING ALL 1,080
PIECES IN THIS WAY. DO THIS THREE TIMES A DAY, 1,080 TIMES EACH TIME, FOR SEVEN
DAYS. AS THE MANTRA MASTER, YOU SHALL BE SELF-ENLIGHTENED, AND GAIN PENETRATING
WISDOM.
* Nếu muốn được trí huệ
nên dùng nhánh xa xa di, chặt thành 1080 đoạn, mỗi đoạn 2 đầu thoa sữa ngưu tô
thuần chất và sữa ngưu tô hòa với bạch mật, cứ mỗi lần tụng chú lại đốt một đoạn.
Nên nhớ trong một ngày đêm chia ra ba thời, mỗi thời tụng chú và đốt 1080 đoạn.
Thật hành đúng 7 ngày, chú sư sẽ được trí huệ thông ngộ. (PC: Mỗi thời tụng 1080 biến tất là người tụng quá
nhuần, và có định tâm nhiều)
Nhược
dục giáng phục đại lực quỷ thần giả, thủ a lợi sắt ca sài, chú thất thất biến,
hỏa trung thiêu, hoàn tu đồ tô lạc mật, tu yếu ư đại bi tâm tượng tiền tác chi.
(Chú: A lợi sắt ca sài tức mộc
hoạn tử)
若欲降伏大力鬼神者,取阿唎瑟迦柴,呪七七遍,火中燒,還須塗酥酪蜜,要須於大悲心像前作之。(註:阿
唎瑟迦柴。木患子也。)
IF YOU WISH TO SUBDUE GREATLY POWER GHOSTS AND SPIRITS, MANTRA A STICK OF ARISHTAKA FORTY-NINE TIMES AND BURN IT, YOU MUST STILL SMEAR THE BUTTER AND HONEY, AND IT IS ALSO NECESSARY TO PERFORM THE CEREMONY BEFORE AN IMAGE OF THE GREAT COMPASSIONATE HEART. (ARISHTAKA WOOD IS MU HUAN TZU)
* Nếu muốn hàng phục đại lực
quỷ thần, dùng củi cây A rị sắc ca, thoa sữa tô lạc và mật vào, đem trước tượng
Đại Bi gia trì, chú 49 biến, rồi đốt trong lửa. (A rị sắc ca dịch là Mộc hoạn tử, cũng gọi là vô hoạn
tử, một thứ cây có năng lực trừ tà, hạt của trái cây này có thể xỏ làm hạt chuỗi)
Nhược
thủ hồ lô già na nhất đại lượng, trước lưu ly bình trung, trí đại bi tâm tượng
tiền, chú nhất bách bát biến, đồ thân điểm ngạch, nhất thiết thiên long quỷ thần,
nhân cập phi nhân, giai tất hoan hỉ dã. (Chú:
Hồ lô giá na, ngưu hoàng thị dã).
若取胡嚧遮那一大兩,著瑠璃瓶中,置大悲心像前,呪一百八遍,塗身、點額,一切天、龍、鬼、神、人及非人,皆悉歡喜也。(註:胡嚧遮那,
牛黃是也。)
IF YOU PLACE A GENEROUS OUNCE OF GOROCHANA IN A
GLASS BOTTLE, PLACE IT BEFORE A GREAT COMPASSIONATE IMAGE, MANTRA IT 108 TIMES,
AND THEN SMEAR IT ON YOUR BODY AND DOT IT ON YOUR FOREHEAD, ALL GODS, DRAGONS,
GHOSTS, SPIRITS, HUMANS AND NON-HUMANS WILL BE DELIGHTED. (GOROCHANA IS NIU HUANG, "COW
YELLOW.")
Nhược
hữu thân bị già tỏa giả, thủ bạch cáp phân, chú nhất bách bát biến, đồ ư thủ thượng,
dụng ma già tỏa, già tỏa tự thoát dã.
若有身被枷鎖者,取白鴿糞,呪一百八遍,塗於手上,用摩枷鎖,枷鎖自脫也。
IF YOU ARE PUT IN HANDCUFFS OR ARE LOCKED IN A
CANGUE, SAY THE MANTRA OVER THE EXCREMENT OF A WHITE PIGEON 108 TIMES. SMEAR IT
ON YOUR HANDS, THEN RUB THE LOCKS AND THEY WILL OPEN OF THEMSELVES.
* Nếu thân bị xiềng xích,
dùng phẩn của con bồ câu trắng, gia trì chú 108 biến, tụng xong đem thoa vào
tay chà lên gông xiềng, gông xiềng sẽ tự sút.
Nhược
hữu phu phụ bất hòa, trạng như thủy hỏa giả, thủ uyên ương vĩ, ư đại bi tâm tượng
tiền, chú nhất thiên bát biến, đới bỉ, tức chung thân hoan hỉ tương ái kính.
若有夫婦不和,狀如水火者,取鴛鴦尾,於大悲心像前,呪一千八遍,帶,彼即終身歡喜相愛敬。
IF A HUSBAND AND WIFE ARE NOT IN HARMONY AND THE SITUATION IS LIKE THAT OF WATER AND FIRE, TAKE THE TAIL OF A MANDARIN DUCK BEFORE AN IMAGE OF THE GREAT COMPASSION HEART; SAY THE MANTRA OVER IT 1,080 TIMES, AND CARRY IT ON THE BODY. TO THE END OF YOUR LIFE, THERE WILL BE MUTUAL DELIGHT, LOVE, AND RESPECT.
* Nếu vợ chồng bất hòa, trạng
như nước lửa, dùng lông đuôi chim oan ương, đem trước tượng Đại Bi tụng chú
1.080 biến rồi đeo trong mình, tất vợ chồng trọn đời vui hòa, thương yêu nhau.
Nhược
hữu bị trùng thực điền miêu, cập ngũ quả tử giả, thủ tịnh hôi tịnh sa, hoặc tịnh
thủy, chú tam thất biến, tán điền miêu điền biên, trùng tức thối tán dã, quả thọ
kiêm chú thủy, sái trước thọ thượng, trùng bất cảm thực quả dã.
若有被蟲食,田苗及五果子者,取淨灰、淨沙或淨水,呪三七遍,散田苗四邊,蟲即退散也。果樹兼呪水灑者,樹上蟲不敢食果也。
IF YOUR FIELDS OR ORCHARDS ARE BEING EATEN BY BUGS, SAY THE MANTRA OVER
PURE ASHES, PURE SAND, OR PURE WATER TWENTY-ONE TIMES. SPRINKLE IT ON THE FOUR
BOUNDARIES OF THE FIELDS AND THE BUGS WILL RETREAT. SPRINKLE MANTRA-WATER ON
THE FRUIT TREES AND THE BUGS WILL LEAVE; THEY WILL NOT DARE EAT THE FRUIT.
* Nếu lúa mạ hoặc các thứ
cây trái bị sâu bọ cắn, dùng tro và cát sạch hòa với nước trong, gia trì 21 biến
chú, rảy trên cây, trên mạ cùng bốn bên bờ ruộng, thì sâu bọ không dám phá hại.
Đức Phật bảo ngài A
Nan: - “Quán Thế Âm Tự Tại Bồ
Tát có ngàn mắt ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong
cầu của chúng sanh. Đó cũng là do tâm Đại Bi của vị Đại Sĩ ấy hóa hiện”.
PC: Những chân ngôn sau đây, chỗ có vạch ngang dài(--) là chữ đọc
kéo hơi dài ra, chữ có ngang vắn (-) là hai chữ đọc hiệp lại làm một, muốn cầu
điều gì, đọc chân ngôn theo điều ấy.
Phật
cáo A-nan: Nhược hữu phú nhiêu, Chủng chủng trân bảo tư cụ giả, Đương ư NHƯ-Ý-CHÂU thủ.
佛告阿難:若為富饒,種種珍寶資具者,當於如意珠手。
THE BUDDHA TOLD ANANDA,
1. FOR WEALTH, VARIOUS GEMS AND VALUABLES, USE THE AS-YOU- WILL PEARL HAND.
Đức Phật lại bảo ngài A Nan:
Nếu chúng sanh nào muốn được
giàu lớn, có nhiều thứ châu báu, đồ dùng, nên cầu nơi tay cầm châu như ý.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt ra, phạ đa ra, hồng phấn tra.
Nhược
vị chủng chủng bất an cầu an ẩn giả, Đương ư QUYẾN-SÁCH thủ.
若為種種不安求安隱者,當於羂索手。
2. FOR SEEKING PEACE AND TRANQUILITY IN ALL UNRESTFUL SITUATIONS, USE THE
LARIAT HAND.
Nếu bị các việc khuấy rối,
muốn được an ổn, nên cầu nơi tay cầm dây quyến sách.
* Chân ngôn rằng: Án-- chỉ rị lã ra, mô nại ra, hồng phấn tra.
Nhược
vị phúc trung chư bệnh giả, Đương ư BẢO-BÁT thủ.
若為腹中諸病者,當於寶鉢手。
3. FOR ALL INTERNAL ILLNESSES, USE THENJEWELED BOWL HAND.
Nếu muốn trị các thứ bịnh
trong bụng, nên cầu nơi tay cầm cái bát báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt-ra, hồng phấn
tra.
Nhược
vi hàng phục nhất thiết vọng lượng quỷ thần giả, Đương ư BẢO-KIẾM thủ.
若為降伏一切魍魎鬼神者,當於寶劍手。
4. FOR SUBDUING ALL WANG LIANG GHOSTS AND SPIRITS, USE
THE JEWELED SWORD HAND.
Nếu muốn hàng phục tất cả
quỷ, thần, vọng, lượng, nên cầu nơi tay cầm gươm báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- đế thế đế nhá, đổ vỉ nảnh,
đổ đề bà đà dã, hồng phấn tra.
Nhược
vị hàng phục nhất thiết thiên ma thần giả, Đương ư BẠT-CHIẾT-LA thủ.
若為降伏一切天魔神者,當於跋折羅手。
5. FOR SUBDUING ALL HEAVENLY DEMONS AND SPIRITS, USE THE VAJRA HAND.
Nếu muốn hàng phục tất cả
thiên ma thần, nên cầu nơi tay cầm bạt chiết la. (59)
* Chân ngôn rằng: Án-- nể bệ nể bệ, nể bà dã, ma ha thất rị duệ,
tát-phạ hạ.
Nhược
vị thôi phục nhất thiết oán địch giả, Đương ư KIM-CANG-XỬ thủ.
若為摧伏一切怨敵者,當於金剛杵手。
6. FOR CONQUERING ALL HATEFUL ENEMIES, USE THE VAJRA PESTLE HAND.
Nếu muốn hàng phục tất cả
oán tặc, nên cầu nơi tay cầm chày kim cang.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra chỉ-nảnh,
bát-ra nể bát đa dã, tát-phạ hạ.
Nhược
vị nhất thiết xứ bố úy bất an giả, Đương ư THÍ-VÔ-ÚY thủ.
若為一切處怖畏不安者,當於施無畏手。
7. FOR ALL SITUATIONS WHERE THERE IS FEAR AND UNREST, USE THE BESTOWING
FEARLESSNESS HAND.
Nếu muốn trừ tánh ở tất cả
chỗ sợ hãi không yên, nên cầu nơi tay thí vô úy.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra nẳng dã, hồng phấn tra.
Nhược
vị nhãn ám vô quang minh giả, Đương ư NHỰT- TINH-MA-NI thủ.
若為眼闇無光明者,當於日精摩尼手。
8. FOR DARKNESS AND LACK OF LIGHT IN THE EYES, USE THE SUN ESSENCE MANI
HAND.
Nếu muốn trị bịnh mắt mờ
không thấy ánh sáng, nên cầu nơi tay cầm châu nhựt tinh ma ni.
* Chân ngôn rằng: Án-- độ tỉ, ca giả độ tỉ,
bát ra phạ rị nảnh, tát-phạ hạ.
Nhược
vị nhiệt độc bệnh cầu thanh lương giả, Đương ư NGUYỆT-TINH-MA-NI thủ.
若為熱毒病求清涼者,當於月精摩尼手。
9. FOR SICKNESSES INVOLVING HEAT AND POISON, WHERE ONE SEEKS COOLNESS,
USE THE MOON ESSENCE MANI HAND.
Nếu bị bịnh nhiệt độc, muốn
được mát mẻ hết bịnh, nên cầu nơi tay cầm châu nguyệt tinh ma ni.
* Chân ngôn rằng: Án-- tô tất địa yết-rị, tát-phạ hạ.
Nhược
vị vinh quan ích chức giả, Đương ư BẢO-CUNG thủ.
若為榮官益職者,當於寶弓手。
10. FOR PROMOTIONS IN OFFICIAL POSITIONS, USE THE JEWELED BOW HAND.
Nếu muốn được làm quan,
lên chức, nên cầu nơi tay cầm cung báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- a tả vĩ, lệ, tát-phạ hạ.
Nhược
vị chư thiện bằng hữu tảo tương phùng giả, Đương ư BẢO-TIỄN thủ.
若為諸善朋友早相逢者,當於寶箭手。
11. FOR QUICKLY MEETING UP WITH GOOD FRIENDS, USE THE JEWELED ARROW HAND.
Nếu muốn được mau gặp các
bạn lành, nên cầu nơi tay cầm tên báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- ca mạ lã, tát-phạ hạ.
Nhược
vị thân thượng chủng chủng bệnh giả, Đương ư DƯƠNG-CHI thủ.
若為身上種種病者,當於楊枝手。
12. FOR VARIOUS ILLNESSES OF THE BODY, USE THE WILLOW BRANCH HAND.
Nếu muốn trị các thứ bịnh
trên thân, nên cầu nơi tay cầm cành dương liễu.
* Chân ngôn rằng: Án-- Tô tất địa, ca rị phạ rị, đa nẩm đa,
mục đa duệ, phạ nhựt ra, phạ nhựt ra bạn đà,
hạ nẳng hạ nẳng, hồng phấn tra.
Nhược
vị trừ thân thượng ác chướng nạn giả, Đương
ư BẠCH-PHẤT thủ.
若為除身上惡障難者,當於白拂手。
13. FOR GETTING RID OF EVIL OBSTACLES AND DIFFICULTIES, USE THE WHITE WHISK HAND.
Nếu muốn trừ những chướng
nạn ác bên thân, nên cầu nơi tay cầm cây phất trắng.
* Chân ngôn rằng: Án-- bát na di nảnh, bà nga phạ đế,
mô hạ dã nhá, nga mô hạ nảnh, tát-phạ hạ.
Nhược
vị nhất thiết thiện hòa quyến thuộc giả, Đương ư HỒ-BÌNH thủ.
若為一切善和眷屬者,當於胡瓶手。
14. FOR WHOLESOME AND HARMONIOUS RETINUES, USE THE HU BOTTLE
HAND.
Nếu muốn tất cả người
trong quyến thuộc được hòa thuận nhau, nên cầu nơi tay cầm cái hồ bình.
* Chân ngôn rằng: Án-- yết lệ, thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.
Nhược
vị tịch trừ nhất thiết hổ lang sài báo chư ác thú giả, Đương ư BÀNG-BÀI thủ.
若為辟除一切虎狼犲豹諸惡獸者,當於旁牌手。
15. FOR WARDING OFF TIGERS, WOLVES, AND WILD CATS AND ALL EVIL BEASTS,
USE THE SHIELD HAND.
Nếu muốn xua đuổi loài hổ
báo, sài lang và tất cả ác thú, nên cầu nơi tay cầm cái bàng bài.
* Chân ngôn rằng: Án-- dược các sam nẳng, na dã chiến nại-ra,
đạt nậu bá rị-dã, bạt xá bạt xá, tát-phạ hạ.
Nhược
vị nhất thiết thời xứ, hảo ly quan nạn giả, Đương ư PHỦ-VIỆT thủ.
若為一切時處好離官難者,當於斧鉞手。
16. FOR AVOIDING DIFFICULTIES WITH THE LAW AT ALL TIMES AND IN ALL
PLACES, USE THE AXE HAND.
Nếu muốn trong tất cả thời,
tất cả chỗ, lìa nạn quan quân vời bắt, nên cầu nơi tay cầm cây phủ việt.
* Chân ngôn rằng: Án-- vị ra dã, vị ra dã, tát-phạ hạ.
Nhược
vị nam nữ bộc sử giả, Đương ư NGỌC-HOÀN thủ.
若為男女僕使者,當於玉環手。
17. FOR MALE AND FEMALE SERVANTS, USE THE JADE RING HAND.
Nếu muốn có tôi trai tớ
gái để sai khiến, nên cầu nơi tay cầm chiếc vòng ngọc.
* Chân ngôn rằng: Án-- bát na hàm vị ra dã, tát-phạ hạ.
Nhược
vị chủng chủng công đức giả, Đương ư BẠCH-LIÊN-HOA thủ.
若為種種功德者,當於白蓮華手。
18. FOR ALL KINDS OF MERIT AND VIRTUE, USE THE WHITE LOTUS HAND.
Nếu muốn được các thứ công
đức, nên cầu nơi tay cầm hoa sen trắng.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra, vị ra dã, tát-phạ hạ.
Nhược
vị dục đắc vãng sanh thập phương tịnh độ giả, Đương ư THANH-LIÊN-HOA thủ.
若為欲得往生十方淨土者,當於青蓮華手。
19. FOR REBIRTH IN THE PURE LANDS OF THE TEN DIRECTIONS, USE THE BLUE
LOTUS HAND.
Nếu muốn được sanh về mười
phương tịnh độ, nên cầu nơi tay cầm hoa sen xanh.
* Chân ngôn rằng: Án-- chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt-ra,
bộ ra bạn đà, hồng phấn tra.
Nhược
vị đại trí huệ giả, Đương ư BẢO-CẢNH thủ.
若為大智慧者,當於寶鏡手。
20. FOR GREAT WISDOM, USE THE JEWELED MIRROR HAND.
Nếu muốn được trí huệ lớn,
nên cầu nơi tay cầm cái gương báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- vỉ tát phổ ra, na ra các xoa,
phạ nhựt-ra, mạn trà lả, hồng phấn tra.
Nhược
vị diện kiến thập phương nhất thiết chư Phật giả, Đương ư TỬ-LIÊN-HOA thủ.
若為面見十方一切諸佛者,當於紫蓮華手。
21. FOR MEETING THE BUDDHAS OF THE TEN DIRECTIONS, USE THE PURPLE LOTUS
HAND.
Nếu muốn được diện kiến mười
phương tất cả chư Phật, nên cầu nơi tay cầm hoa sen tím.
* Chân ngôn rằng: Án-- tát ra tát ra, phạ nhựt-ra ca ra, hồng phấn tra.
Nhược
vị địa trung phục tạng giả, Đương ư BẢO-KHIẾP thủ.
若為地中伏藏者,當於寶篋手。
22. FOR UNCOVERING HIDDEN TREASURES IN THE EARTH, USE THE JEWEL-CHEST
HAND.
Nếu muốn lấy được kho báu ẩn
trong lòng đất, nên cầu nơi tay cầm cái bảo kíp.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra, bá thiết ca rị,
yết nẳng hàm, ra hồng.
Nhược
vị tiên đạo giả, Đương ư NGŨ-SẮC-VÂN thủ.
若為仙道者,當於五色雲手。
23. FOR THE WAY OF THE IMMORTALS, USE THE FIVE-COLORED CLOUD HAND.
Nếu muốn được đạo tiên,
nên cầu nơi tay cầm hóa hiện mây ngũ sắc.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra, ca rị ra tra hàm tra.
Nhược
vị sanh phạm thiên giả, Đương ư QUÂN-TRÌ thủ.
若為生梵天者,當於軍遲手。
24. FOR BIRTH IN THE BRAHMA HEAVENS, USE THE KUNDI HAND.
Nếu muốn sanh lên cõi Phạm
Thiên, nên cầu nơi tay cầm bình quân trì (TỊNH BÌNH) (60).
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra, thế khê ra, rô tra hàm tra.
Nhược
vị vãng sanh chư thiên cung giả, Đương ư HỒNG- LIÊN-HOA thủ.
若為往生諸天宮者,當於紅蓮華手。
25. FOR REBIRTH IN ALL HEAVENLY PALACES, USE THE RED LOTUS HAND.
Nếu muốn được sanh lên các
cung trời, nên cầu nơi tay cầm hoa sen hồng.
* Chân ngôn rằng: Án-- thương yết lệ, tát-phạ hạ.
Nhược
vị tịch trừ tha phương nghịch tặc giả, Đương ư BẢO-KÍCH thủ.
若為辟除他方逆賊者,當於寶戟手。
26. FOR WARDING OFF INVADING ENEMIES, USE THE JEWELED HALBERD HAND.
Nếu muốn xua đuổi giặc nghịch
ở phương khác đến, nên cầu nơi tay cầm cây bảo kích.
* Chân ngôn rằng: Án-- thẳm muội dã, chỉ nảnh hạ rị,
hồng phấn tra.
Nhược
vị triệu hô nhất thiết chư thiên thiện thần giả, Đương ư BẢO-LOA thủ.
若為召呼一切諸天善神者,當於寶螺手。
27. FOR SUMMONING ALL THE GODS AND GOOD SPIRITS, USE THE JEWELED CONCH
HAND.
Nếu muốn triệu tất cả chư
thiên thiện thần, nên cầm nơi tay ống loa báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- thương yết-lệ,
mạ hạ thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.
Nhược
vị sử lịnh nhất thiết quỷ thần giả, Đương ư ĐỘC-LÂU-TRƯỢNG thủ.
若為使令一切鬼神者,當於髑髏杖手。
28. FOR COMMANDING ALL GHOSTS AND SPIRITS, USE THE SKULL-BONE STAFF HAND.
Nếu muốn sai khiến tất cả
quỷ thần, nên cầu nơi tay cầm cây gậy đầu lâu.
* Chân ngôn rằng: Án-- độ nẳng, phạ nhựt-ra xá.
Nhược
vị thập phương chư Phật tốc lai thọ thủ giả, Đương ư SỔ-CHÂU thủ.
若為十方諸佛速來授手者,當於數珠手。
29. FOR CAUSING THE TEN DIRECTION BUDDHAS TO QUICKLY COME AND CONFER
PREDICTIONS, USE THE RECITATION BEADS HAND.
Nếu muốn mười phương chư
Phật sớm đến đưa tay tiếp dẫn, nên cầu nơi tay cầm xâu chuỗi ngọc.
* Chân ngôn rằng: Nẳng mồ-- ra đát-nẳng,
Án-- a na bà đế vĩ nhá duệ,
Nhược
vị thành tựu nhất thiết thượng diệu phạm âm thanh giả, Đương ư BẢO-ĐẠC thủ.
若為成就一切上妙梵音聲者,當於寶鐸手。
30. FOR ACCOMPLISHING ALL SUPERIOR BRAHMA SOUNDS, USE THE JEWELED BELL HAND.
Nếu muốn có được tất cả phạm
âm thanh tốt nhiệm mầu, nên cầu nơi tay cầm chiếc linh báu.
* Chân ngôn rằng: Nẳng mồ-- bát na hàm bá noa duệ.
Án-- a mật lật đảm, nghiểm bệ thất rị duệ,
thất rị chiếm rị nảnh, tát-phạ hạ.
Nhược
vị khẩu nghiệp từ biện xảo diệu giả, Đương ư BẢO-ẤN thủ.
若為口業辭辯巧妙者,當於寶印手。
31. FOR MOUTH KARMA WHICH IS ELOQUENT, CLEVER, AND WONDERFUL, USE THE
JEWELED SEAL HAND.
Nếu muốn được miệng nói biện
luận hay khéo, nên cầu nơi tay cầm chiếc ấn báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ-nhựt ra, nảnh đảm nhá duệ, tát-phạ hạ.
Nhược
vị thiện thần long vương thường lai ủng hộ giả, Đương ư CU-THI-THIẾT-CÂU thủ.
若為善神龍王常來擁護者,當於俱尸鐵鉤手。
32. FOR CAUSING THE GOOD SPIRITS AND DRAGONS KINGS TO CONSTANTLY SURROUND
AND GUARD ONE, USE THE CHU SHIH IRON HOOK HAND.
Nếu muốn được Thiên thần,
Long vương thường đến ủng hộ, nên cầu nơi tay cầm cu thi thiết câu.
* Chân ngôn rằng: Án-- a rô rô, đa ra ca ra, vỉ sa duệ.
Nẳng mồ-- tát-phạ hạ.
Nhược
vị từ bi phú hộ nhất thiết chúng sanh giả, Đương ư TÍCH-TRƯỢNG thủ.
若為慈悲覆護一切眾生者,當於錫杖手。
33. FOR COVERING AND PROTECTING ALL BEINGS WITH COMPASSION, USE THE TIN
STAFF HAND.
Nếu vì lòng từ bi muốn cho
tất cả chúng sanh được nhở sự che chở giúp đỡ, nên cầu nơi tay cầm cây tích trượng.
* Chân ngôn rằng: Án-- na lật thế, na lật thế,
na lật tra bát để, na lật đế na dạ bát nảnh,
hồng phấn tra.
Nhược
vị nhất thiết chúng sanh thường tương cung kính ái niệm giả, Đương ư HIỆP-CHƯỞNG
thủ.
若為一切眾生常相恭敬愛念者,當於合掌手。
34. FOR CAUSING ALL LIVING BEINGS TO BE ALWAYS RESPECTFUL AND LOVING
TOWARDS ONE ANOTHER, USE THE JOINED PALMS HAND.
Nếu muốn cho tất cả chúng
sanh thường cung kính yêu mến nhau, nên cầu nơi tay hiệp chưởng.
* Chân ngôn rằng: Án --bát nạp mạng nhá lăng, hất rị.
(Theo trong tạng-bản, lại có chơn-ngôn:
Án --vỉ tát ra, vỉ tát ra, hồng phấn tra.)
Nhược
vị sanh sanh chi xứ bất ly chư Phật biên giả, Đương ư HÓA-PHẬT thủ.
若為生生之處不離諸佛邊者,當於化佛手。
35. FOR NEVER BEING APART FROM THE BUDDHAS THROUGHOUT ALL SUCCESSIVE
LIVES, USE THE TRANSFORMATION BUDDHA HAND.
Nếu muốn tùy theo chỗ
sanh, thường ở bên Phật, nên cầu nơi tay hiện hóa Phật.
* Chân ngôn rằng: Án-- chiến na ra, ba hàm tra rị,
ca rị na, chỉ rị na, chỉ rị nỉ, hồng phấn tra.
Nhược
vị sanh sanh thế thế thường tại Phật cung điện trung, bất xứ thai tạng trung thọ
thân giả, Đương ư HÓA-CUNG-ĐIỆN thủ.
若為生生世世常在佛宮殿中,不處胎藏中受身者,當於化宮殿手。
36. FOR ALWAYS BEING PRESENT IN THE PALACES OF THE BUDDHAS THROUGHOUT ALL
SUCCESSIVE LIVES AND BIRTHS, AND NEVER RECEIVING A BODY BORN FROM A WOMB USE
THE TRANSFORMATION PALACE HAND.
Nếu muốn đời đời kiếp kiếp
thường ở trong cung điện Phật, không thọ sanh ở bào thai, nên cầu nơi tay hiện
hóa cung điện.
* Chân ngôn rằng: Án-- vi tát ra, vi tát ra, hồng phấn tra.
Nhược
vị đa văn quảng học giả, Đương ư BẢO-KINH thủ.
若為多聞廣學者,當於寶經手。
37. FOR MUCH LEARNING AND EXTENSIVE STUDY, USE THE JEWELED SUTRA HAND.
Nếu muốn được học rộng
nghe nhiều, nên cầu nơi tay cầm quyển kinh báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- a hạ ra, tát ra phạ ni,
nể dã đà ra, bố nể đế, tát-phạ hạ.
Nhược
vị tùng kim thân chí Phật thân, bồ đề tâm thường bất thối chuyển giả, Đương ư BẤT-THOÁI-KIM-LUÂN
thủ.
若為從今身至佛身,菩提心常不退轉者,當於不退金輪手。
38. FOR NOT RETREATING FROM THE BODHI HEART FROM THIS INCARNATION UNTIL
ONE'S INCARNATION AS A BUDDHA, USE THE NON-RETREATING GOLD WHEEL HAND.
Nếu muốn từ thân này cho đến
thân thành Phật, tâm bồ đề thường không lui sụt, nên cầu nơi tay cầm bất thối
kim luân.
* Chân ngôn rằng: Án-- thiết na di tả, tát-phạ hạ.
Nhược
vị thập phương chư Phật tốc lai ma đảnh thọ ký giả, Đương ư ĐẢNH-THƯỢNG-HÓA-PHẬT
thủ.
若為十方諸佛速來摩頂授記者,當於頂上化佛手。
39. FOR CAUSING THE TEN DIRECTION BUDDHA TO QUICKLY COME AND RUB ONE ON
THE CROWN, CONFERRING A PREDICTION, USE THE TRANSFORMATION BUDDHA ATOP THE
CROWN HAND.
Nếu muốn mười phương chư
Phật mau đến xoa đầu thọ ký, nên cầu nơi tay đảnh thượng hóa Phật.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-rị ni,
phạ nhựt-lảm nghệ tát-phạ hạ.
Nhược
vị quả lỏa chư cốc giá giả, Đương ư BỒ-ĐÀO thủ。
若為果蓏諸穀稼者,當於蒲萄手。
40. FOR FRUITS, MELONS, AND GRAINS, USE GRAPE HAND.
Nếu muốn có được cây trái
ngũ cốc, nên cầu nơi tay cầm chùm bồ đào.
* Chân ngôn rằng: Án-- A-ma lã kiếm đế nể nảnh, tát-phạ hạ.
Nhược vị linh nhất thiết cơ khát
hữu tình đắc thanh lương giả, Đương ư CAM-LỘ thủ.
若為令一切飢渴有情得清涼者,
當於 甘露手 。
41. FOR SATISFYING THE HUNGER AND THIRST OF LIVING CREATURES, USE THE
SWEET DEW HAND.
Nếu muốn cho tất cả loài hữu
tình đói khát được no đủ mát mẻ, nên cầu nơi tay hóa nước cam lộ.
* Chân ngôn rằng: Án-- Tố rô tố rô, Bác-ra tố rô, Bác-ra tố rô,
tố rô tố rô dã, Tát-phạ hạ.
Nhược vị năng phục tam thiên đại
thiên thế giới oán ma giả, Đương ư TỔNG-NHIẾP-THIÊN-TÝ thủ.
若為能伏三千大千世界怨魔者,當於總攝千臂手。
42. FOR SUBDUING HATEFUL DEMONS IN THE THREE THOUSAND GREAT-THOUSAND
WORLDS, USE THE UNITING AND HOLDING THOUSAND ARMS HAND.
Nếu muốn hàng phục ma oán
trong cõi đại thiên, nên cầu nơi tay tổng nhiếp thiên thủ.
* Chân ngôn rằng: Đát nể dã thá, phạ lồ chỉ đế, thấp phạ ra dã,
tát bà đốt sắc, tra ô hạ di dả, Sá-phạ hạ.
Như
thị khả cầu chi pháp, hữu kỳ thiên điều, kim thô lược thuyết thiếu nhĩ.
如是可求之法,有其千條,今粗略說少耳。
THUS ARE ALL THE DHARMAS OF SEEKING; ARE A THOUSAND, BUT WE HAVE ONLY
SPOKEN OF BRIEFLY.
- Này A Nan! Những việc có
thể mong cầu như thế, kể có ngàn điều. Nay ta chỉ nói lược qua chút ít phần
thôi.
Nhật
quang bồ tát vi thọ trì đại bi đà ra ni giả, Thuyết đại thần chú, nhi ủng hộ
chi:
日光菩薩為受持大悲心陀羅尼者,說大神呪,而擁護之:
SUNLIGHT BODHISATTVA THEN SPOKE A GREAT SPIRITUAL
MANTRA TO PROTECT THOSE WHO ACCEPT AND HOLD THE GREAT COMPASSION DHARANT:
Khi ấy Nhựt Quang Bồ Tát vì người thọ trì Đại Bi Tâm đà ra ni nói đại thần chú để ủng hộ rằng:
南無勃陀瞿那迷。
南無達摩莫訶低。
南無僧伽多夜泥。
底哩部畢薩咄檐納摩。
NA MWO BO TO JU NWO MI.
NA MWO DA MWO MO HE DI.
NA MWO SENG CHYE DWO YE NI.
DI LI BU BI SA DU YEN NA MWO.
Nam mô bột-đà cù na mê.
Nam mô đạt-mạ mạc ha đê.
Nam mô tăng-già đa dạ nê.
Để chỉ bộ tất tát đốt chiêm nạp mạ.
Tụng
thử chú, diệt nhất thiết tội, diệt năng tịch ma cập trừ thiên tai.
誦此呪,滅一切罪,亦能辟魔及除天災。
TO RECITE THIS MANTRA IS TO WIPE AWAY ALL OFFENSES,
KEEP ONE FROM DEMONS, AND PREVENT NATURAL DISASTERS.
Nhựt Quang Bồ Tát bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tụng chú này diệt được tất cả tội, cũng đuổi được ma và trừ thiên tai.
Nhược
tụng nhất biến, lễ Phật nhất bái, như thị nhật biệt tâm thời, tụng chú lễ Phật,
vị lai chi thế, sở thọ thân xứ, đương đắc nhất nhất tướng mạo đoan chánh, khả hỷ
quả báo.
若誦一遍,禮佛一拜,如是日別三時,誦呪禮佛,未來之世,所受身處,當得一一相貌端正,可喜果報。
IF YOU RECITE IT ONCE AND BOW TO THE BUDDHA ONCE, RECITING AND BOWING
THREE DIFFERENT TIMES EVERYDAY, THEN IN EVERY PLACE OF FUTURE REBIRTH, YOU WILL
ALWAYS CERTAINLY BE REBORN WITH AN ATTRACTIVE APPEARANCE AND “THE RETRIBUTION
OF DELIGHT.”
Nếu kẻ nào tụng chú này một
biến, lễ Phật một lạy, mỗi ngày chia ra làm ba thời tụng chú lễ Phật như thế,
trong đời vị lai tùy theo chỗ thọ thân, thường được tướng mạo xinh đẹp, được quả
báo đáng vui mừng.
Nguyệt-Quang
Bồ-tát diệc phục vị chư hành-nhơn, Thuyết đà ra ni chú, Nhi ủng hộ chi:
月光菩薩亦復為諸行人,說陀羅尼呪,而擁護之:
MOONLIGHT BODHISATTVA THEN SPOKE A DHARANI TO PROTECT PRACTITIONERS:
Nguyệt Quang Bồ Tát cũng vì hành nhơn mà nói đà ra ni để ủng hộ rằng:
深低帝屠蘇吒。
阿若蜜帝烏都吒。
深耆吒。
波賴帝。
耶彌若吒烏都吒。
拘羅帝吒耆摩吒。
沙婆訶。
SHEN DI DI TU SHU JA.
E RE MI DI WU DU JA.
SHEN CHI JA.
BWO LAI DI.
YE MI RE JA WU DU JA.
JYU LWO DI JA CHI MWO JA.
SWO PE HE.
Thâm đê đế đồ tô tra.
A nhã mật đế ô đô tra.
Thâm kỳ tra.
Ba lại đế.
Gia di nhã tra ô đô tra.
Câu la đế tra kỳ ma tra.
Sá-phạ hạ.
Tụng
thử chú ngũ biến, thủ ngũ sắc tuyến, tác chú sách, thống xứ hệ.
誦此呪五遍,取五色線,作呪索,痛處繫。
RECITE THIS MANTRA FIVE TIMES, MAKING A MANTRA-ROPE OUT OF FIVE-COLORED
THREADS. TIE IT AROUND THE PLACE THAT HURTS.
Nguyệt Quang Bồ Tát lại bạch
Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tụng chú này năm biến, rồi lấy chỉ ngũ sắc xe thành sợi niệt, gia trì chú vào, buộc tréo nơi tay.
Thử
chú nãi thị quá khứ tứ thập hằng hà sa chư Phật sở thuyết, ngã kim diệc thuyết.
Vi chư hành nhân, tác ủng hộ cố, trừ nhất thiết chướng nạn cố, trừ nhất thiết
ác bệnh thống cố, thành tựu nhất chư thiện pháp cố, viễn ly nhất thiết chư bố
úy cố.
此呪乃是過去四十恒河沙諸佛所說,我今亦說。為諸行人,作擁護故,除一切障難故,除一切惡病痛故,成就一切諸善法故,遠離一切諸怖畏故。
THIS MANTRA HAS BEEN SPOKEN BY BUDDHAS OF THE PAST TO THE NUMBER OF SAND
GRAINS IN FORTY GANGES RIVERS. I ALSO NOW SPEAK IT FOR THE SAKE OF ALL
PRACTICERS, IN ORDER TO PROTECT THEM, TO CAST OUT ALL OBSTACLES AND
DIFFICULTIES, TO GET RID OF ALL THE PAIN OF EVIL ILLNESSES, TO ACCOMPLISH THE
REALIZATION OF ALL WHOLESOME DHARMAS, AND TO LEAVE ALL FEAR FAR BEHIND."
Chú này do bốn mươi hằng
sa chư Phật đời quá khứ đã nói ra, nay tôi cũng nói để vì các hành nhơn mà làm
duyên ủng hộ. Chú này có công năng trừ tất cả chướng nạn, tất cả bịnh ác, xa
lìa tất cả sự sợ hãi.
Phật
cáo A nan: Nhữ đương thâm tâm thanh tịnh, thọ trì thử đà ra ni, quảng tuyên lưu
bố ư Diêm Phù Đề, mạc linh đoạn tuyệt. Thử đà ra ni, năng đại lợi ích tam giới
chúng sanh, nhất thiết hoạn khổ oanh thân giả, dĩ thử đà ra ni trị chi, vô hữu
bất sai giả.
佛告阿難:汝當深心清淨,受持此陀羅尼,廣宣流布於閻浮提,莫令斷絕。此陀羅尼,能大利益三界眾生,一切患苦縈身者,以此陀羅尼治之,無有不差者。
THE BUDDHA TOLD ANANDA, "YOU SHOULD ACCEPT AND HOLD THE DHARANI WITH
A PROFOUND AND PURE HEART, PROPAGATING IT WIDELY IN JAMBUDVIPA AND NOT ALLOWING
IT TO BECOME EXTINCT. THE DHARANI CAN BRING GREAT BENEFIT TO LIVING BEINGS OF
THE THREE WORLDS AND CURE ALL DISEASE AND SUFFERING WHICH MAY BIND THE BODY, THERE IS NO
ILLNESS IT CANNOT CURE.
Đức Phật bảo ngài A Nan:
- Ông nên dùng lòng trong sạch tin sâu mà thọ trì môn Đại Bi tâm đà ra ni này và lưu bố rộng ra trong cõi Diêm Phù Đề, chớ cho đoạn tuyệt. Đà ra ni này có thể làm lợi ích lớn cho chúng sanh trong ba cõi. Tất cả bịnh khổ ràng buộc nơi thân, nếu dùng đà ra ni này mà trị thì không bịnh nào chẳng lành.
Thử
đại thần chú, chú càn khô thọ, thượng đắc sanh chi, Kha, Hoa, Quả, Hà huống hữu
tình hữu thức chúng sanh ? Thân hữu bệnh hoạn, trị chi bất sai giả, tất vô thị
xứ.
此大神呪,呪乾枯樹,尚得生枝、柯、華、果,何況有情、有識眾生?身有病患,治之不差者,必無是處。
THE GREAT SPIRITUAL MANTRA CAN CAUSE EVEN WITHERED TREES TO GROW NEW
BRANCHES, BLOOM, AND BEAR FRUIT. HOW MUCH THE MORE SO CAN IT CURE THE SICKNESS
AND DISEASE OF THE BODIES OF LIVING CONSCIOUS BEINGS.
Dùng đại thần chú này tụng
vào cây khô, cây ấy còn được sanh cành lá, trổ bông, trái, huống chi là chúng
sanh có tình thức ư? Nếu thân bị đại bịnh, dùng chú này mà trị không lành, lẽ ấy
không bao giờ có.
Thiện
nam tử! Thử đà ra ni, uy thần chi lực, bất khả tư nghị! bất khả tư nghị! Thán mạc
năng tận. Nhược bất quá khứ cửu viễn dĩ lai quảng chủng thiện căn, nãi chí danh
tự bất khả đắc văn, hà huống đắc kiến ? Nhữ đẳng đại chúng, Thiên, Nhân, Long, Thần,
văn ngã tán thán, giai ưng tùy hỷ.
善男子!此陀羅尼,威神之力,不可思議!不可思議!歎莫能盡。若不過去久遠已來廣種善根,乃至名字不可得聞,何況得見?汝等大眾,天、人、龍、神,聞我讚歎,皆應隨喜。
GOOD MEN, THE AWESOME SPIRITUAL POWER OF THE DHARANI
IS INCONCEIVABLE, IT IS INCONCEIVABLE. ONE CANNOT FINISH PRAISING IT. IF, FROM
THE LONG DISTANT PAST, YOU HAD NOT PLANTED EXTENSIVE GOOD ROOTS, YOU WOULD NOT
BE ABLE EVEN TO HEAR ITS NAME, LET ALONE MEET UP WITH IT. ALL OF YOU PRESENT IN
THE GREAT ASSEMBLY--GODS, PEOPLE, DRAGONS, AND SPIRITS--UPON HEARING ME PRAISE
THE DHARANI SHOULD ACCORDINGLY REJOICE.
- Này thiện nam tử! Sức
oai thần của Đại Bi tâm đà ra ni không thể nghĩ bàn! Không thể nghĩ bàn! Khen
ngợi không bao giờ hết được, nếu chẳng phải là kẻ từ thời quá khứ lâu xa đến
nay đã gieo nhiều căn lành, thì dù cho cái tên gọi còn không được nghe, huống
chi là được thấy! Nay đại chúng các ông, cả hàng trời, người long thần, nghe ta
khen ngợi phải nên tùy hỉ.
Nhược
hữu báng thử chú giả, tức vi báng bỉ cửu thập cửu ức hằng hà sa chư Phật. Nhược
ư thử Đà Ra Ni, sanh nghi bất tín giả, đương tri kỳ nhân, vĩnh thất đại lợi, bá
thiên vạn kiếp, thường luân ác thú, vô hữu xuất kỳ, thường bất kiến Phật, bất
văn Pháp, bất đổ tăng.
若有謗此呪者,即為謗彼九十九億恒河沙諸佛。若於此陀羅尼,生疑不信者,當知其人,永失大利,百千萬劫,常淪惡趣,無有出期,常不見佛、不聞法、不覩僧。
ONE WHO SLANDERS THE MANTRA IS SIMPLY SLANDERING
BUDDHAS TO THE NUMBER OF GRAINS OF SAND IN NINETY-NINE MILLIONS OF GANGES
RIVERS. YOU SHOULD KNOW THAT ONE WHO GIVES RISE TO DOUBT OR DISBELIEF WITH
REGARD TO THE DHARANI FOREVER LOSES GREAT BENEFIT. FOR A BILLION AEONS HE WILL
CONTINUALLY BE ENGULFED IN THE EVIL DESTINIES WITH NO PERIOD OF ESCAPE, NEVER
MEETING THE BUDDHA, HEARING THE DHARMA, OR SEEING THE SANGHA.
Nếu kẻ nào hủy báng thần chú này tức là hủy báng 99 ức hằng hà sa chư Phật kia. Nếu người nào đối với đà ra ni này sanh nghi không tin, nên biết kẻ ấy sẽ vĩnh viễn mất sự lợi ích lớn, trăm ngàn muôn kiếp không bao giờ nghe thấy Phật, Pháp, Tăng, thường chìm trong tam đồ không biết bao giờ mới được ra khỏi.
Nhất
thiết chúng hội bồ tát ma ha tát, kim cang mật tích, phạm thích tứ thiên, Long,
Quỷ, Thần, văn Phật Như Lai tán thán thử Đà Ra Ni, giai tất hoan hỷ, phụng giáo
tu hành.
一切眾會菩薩摩訶薩、金剛密跡、梵釋四天、龍、鬼、神,聞佛如來讚歎此陀羅尼,皆悉歡喜,奉教修行。
HEARING THE BUDDHA, THE THUS COME ONE, PRAISE THE DHARANI, THE ENTIRE
ASSEMBLY OF BODHISATTVAS, MAHASATTVAS, VAJRA SECRET TRACES, BRAHMA, SHAKRA, THE
FOUR HEAVENLY KINGS, THE GODS, DRAGONS, GHOSTS AND SPIRITS ALL REJOICED AND
RESPECTFULLY CULTIVATED THE TEACHING.
Khi ấy, tất cả chúng hội,
Bồ Tát Ma ha tát, Kim Cang mật tích, Phạm vương, Đế Thích, tứ đại Thiên vương,
Thiên, Long, quỷ thần, nghe đức Như Lai khen ngợi môn đà ra ni này xong, thảy đều
vui mừng, y lời dạy mà tu hành.
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát
Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi
Tâm Ðà La Ni Kinh
千手千眼觀世音菩薩
廣大圓滿無礙大悲心
陀羅尼經
THE SUTRA OF THE VAST, GREAT, PERFECT, FULL, UNIMPEDED GREAT COMPASSION HEART DHARANI OF THE THOUSAND-HANDED, THOUSAND-EYED BODHISATTVA WHO REGARDS THE WORLD’S SOUNDS
THÍCH NGHĨA:
(1) Dà
Phạm Đạt Mạ: tiếng Phạm (Bhagavaddharma), dịch là Tôn Pháp, một vị sa môn người
Ấn Độ, du hóa vào Trung Quốc, niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường.
(2) Thích
Ca Mâu Ni: tiếng Phạm (Sakyamuni) dịch là Năng Nhân Tịch Mặc, Thích Ca là họ,
Mâu Ni là tên, ngài giáng sanh ở Trung Ấn Độ, 25 thế kỷ về trước, tu thành Phật
làm vị giáo chủ cõi Ta Bà.
(3) Bổ Đà Lạc Ca: Tiếng Phạm Potalaka, dịch là Quang Minh Sơn, tên một
tòa núi ở hải đảo phía Nam Ấn Độ, núi này hình bát giác, đức Quán Thế Âm trụ
tích nơi đây.
(4) Ma
ni: tiếng Phạm Mani, dịch là trân bảo, ly cấu, như ý. Vì rất quý nên gọi là
châu, bảo; vì trong suốt, sáng rỡ nên gọi là ly cấu; vì tuỳ sở biến hiện nên gọi
là như ý.
(5) Đà
ra ni (Dharani), dịch là Tổng Trì, có ba loại: một chữ, nhiều chữ và không chữ.
Vì bao gồm vô lượng pháp nên gọi là Tổng, vì giữ chứa vô lượng nghĩa nên gọi là
trì. Tổng trì có công năng phá tà lập chánh, tiêu diệt nghiệp ác, phát sanh phước
đức căn lành.
(6) Bồ
Tát Ma Ha Tát (Bodhisattva mahasattva) Bồ tát dịch đại đạo tâm chúng sanh, hoặc
giác hữu tình, nghĩa là bậc chúng sanh có lòng đạo lớn, và tuy giác ngộ mà còn
có tình thức. Ma ha tát dịch là đại chúng sanh. Nói tóm lại, Bồ Tát Ma Ha tát
là đại Bồ tát, bậc Bồ tát lớn trong hàng Bồ Tát.
(7) Di
Lặc (Maitreya), dịch là Từ Thị, tên một vị Bồ Tát, sẽ nối ngôi thành Phật, kế đức
Thích Ca.
(8) Văn
Thù Sư Lợi (Manjusri), có chỗ đọc là Mạn Thù Thất Lỵ, dịch là Diệu Đức, hoặc Diệu
Kiết Tường, tên một vị Bồ tát thường hầu bên tả đức Thích Ca, giữ về phần trí
huệ.
(9) Quán
Ðảnh Ðại Pháp Vương tử: vị Bồ tát khi chứng ngôi đẳng giác, trụ nơi cung điện
trang nghiêm ở cõi trời Đại Tự Tại, chư Phật mười phương phóng ánh sáng đến chiếu
rót vào đảnh đầu (quán đảnh). Đây là lễ ấn chứng cho chánh thức làm con của đấng
Pháp vương (pháp vương tử). Sau này sẽ nối ngôi Phật, lệ như thái tử thọ phong
nơi vua.
(10) A La Hán (Arahat) ngôi cực quả trong hàng tiểu thừa, có ba
nghĩa:
Ứng cúng: đáng được thọ trời, người cúng.
Vô sanh: đã dứt sự sống chết, không còn luân hồi.
Sát tặc: giết chết giặc phiền não, hoại nghiệp.
(11) Ma Ha Ca Diếp (Mahàkasyàpa) Ma ha dịch là đại, Ca Diếp dịch
là Ẩm Quang, tên một vị đệ tử lớn của Phật, hạnh đầu đà bậc nhất. Khi ngài mới
sanh ra, có ánh sáng lấn át cả ánh sáng nhựt nguyệt.
(12) Phạm Ma La thiên (Brahman): gọi tắt là Phạm Thiên, tên một
cõi trời ở Sắc giới, Phạm nghĩa là trong sạch, vì chư thiên ở cõi này xa lìa sự
dâm dục, sống trong cảnh an vui của thiền định.
(13) Thiện Tra Phạm Ma: tên của vị thiên tử làm chủ cõi Phạm
Thiên.
(14) Cù Bà Dà Thiên Tử: tên một vị thiên tử ở cõi Dục giới
chuyên giữ pháp lành cho chúng sanh.
(15) Tứ Thiên Vương: bốn vị thiên chủ ở bốn cung trời ở giữa chừng
núi Tu Di: phương Ðông Trì Quốc thiên vương, phương Nam Tăng Trưởng Thiên
Vương, phương Tây Quảng Mục Thiên Vương, phương Bắc Đa Văn Thiên Vương.
(16) Đề Đầu Lại Tra (Dhrtaràstra) cũng gọi là Đề Đa La Tra, tức
Trì Quốc Thiên Vương.
(17) - Thiên, tiếng Phạm gọi là Đề Bà (Déva) ta gọi là trời.
Các vị này do tu thập thiện nên hưởng phước thiên nhiên, sự ăn mặc tùy niệm hiện
thành.
- Long: tiếng Phạm gọi là Na Già (Nagà) ta gọi là rồng, loài này
có thần thông biến hóa, hoặc giữ cung điện trời, hoặc giữ địa luân, hoặc làm
mưa gió.
- Dạ xoa (Yaksa), còn gọi là Dược Xoa, dịch là Dõng Kiện, Bạo Ác
hay Thiệp Tật, một loài quỷ rất hung mãnh, bay đi mau lẹ, có phận sự giữ cung
khuyết, cùng thành trì của trời.
- A tu la (Asura): dịch là Phi Thiên, một loài thần có phước đức
của trời mà đức không bằng trời, có thần thông biến hóa song thân hình thô xấu,
vì kiếp trước hay sân hận.
- Càn thát bà (Gandharva) dịch là Hương ẩm, nhạc thần của trời Đế
Thích, dùng mùi thơm làm thức ăn.
- Ca lâu la (Garuda): dịch là Kim Súy Điểu, một loại chim thần
cánh có lông sắc vàng tốt đẹp, hai cánh xòe ra cách nhau đến 3.360.000 dặm, có
thần thông biến hóa.
- Khẩn na la (Kinnara) dịch là Nghi Nhơn, một loại thần giống
người nhưng không phải là người vì trên đầu có sừng, ca múa rất hay, thường tấu
pháp nhạc và ca múa cho trời Đế Thích nghe.
- Ma hầu la già (Mahoraga) dịch là Đại Mãng, hay Địa long tức là
thần rắn.
- Nhơn phi nhơn: loại quỉ thần hình như người mà không phải là
người, hoặc có sừng, có cánh, có móng vuốt. Đây cũng là danh xưng chung cho bát
bộ quỷ thần vì họ không phải là người mà biến ra hình người đến nghe Phật thuyết
pháp. Kinh Xá LợI Phất vấn nói: "Bát bộ đều là phi nhơn".
(18) Thiết vi: tên dãy núi thuần bằng sắt, có bốn hạng thiết
vi. Hạng thứ nhứt bao vây một tiểu thế giới (gồm một núi Tu Di, bốn đại châu và
biển cả), hạng thứ nhì bao vây một tiểu thiên thế giới, hạng thứ ba bao vây một
trung thiên thế giới, hạng thứ tư bao vây một đại thiên thế giới.
(19) Tu Di (Sumeru) dịch là Diệu Cao, tên một tòa núi đứng giữa
bốn đại bộ châu, vì do bốn chất báu tạo thành nên gọi là Diệu, và cao hơn các
núi khác nên gọi là Cao.
(20) Thần chú: thần có nghĩa là linh thông, Chú có nghĩa là
chúc nguyện, về thể gọi là đà ra ni, về dụng gọi là chú.
(21) Đất rung động sáu cách:
Phương đông nổi, phuơng tây chìm.
Phương tây nổi, phương đông chìm.
Phương nam nổi, phương bắc chìm.
Phương nam chìm phương bắc nổi.
Bốn phương nổi, chính giữa chìm.
Chính giữa nổi, bốn phương chìm.
(22) Sanh tử vi tế: cũng gọi là biến dịch sinh tử. Đây là ước
theo nghĩa vô minh tiêu gọi là tử, pháp thân hiện gọi là sanh, chứ không phải
như tướng sống chết của vật loại. Vì sự sanh diệt này rất nhỏ nhiệm, không phải
phàm tình biết được. Nên gọi là vi tế.
(23) Tỳ khưu, Tỳ khưu Ni (Bhiksu, Bhiksuni) người xuất gia khi
đã thọ cụ túc giới thì nam gọi là Tỳ khưu, nữ gọi là Tỳ khưu Ni. Danh từ này có
nhiều nghĩa, nhưng lối dịch chánh là khất sĩ. Khất sĩ nghĩa là trên xin chánh
pháp để dưỡng tánh huệ, dưới xin thực phẩm để nuôi sắc thân. Ưu Bà tắc, Ưu bà
di (Upàsaka, Upasika) dịch là cận sự nam, cận sự nữ, đây là hàng đệ tử nam nữ của
Phật sau khi thọ tam quy ngũ giới mới có danh từ trên. Cận sự là gần gũi phụng
sự ngôi Tam bảo.
(24) A Di Đà (Amita) dịch là Vô lượng thọ hoặc Vô lượng quang,
có nghĩa là đấng có mạng sống, và ánh sáng không lường. Đây là tôn hiệu của đức
Phật ở về thế giới Cực Lạc ở phương Tây.
(25) Tam muội, biện tài. Tam muội (Samadhi) dịch là chánh định,
có nghĩa tâm định ở một chỗ không xao động. Biện tài: tài biện luận.
(26) Của thường trụ: của nhà chùa. Vì của này không được phép
bán, hay dời đi đâu, thường ở một chỗ, nên gọi là thường trụ.
(27) Tội thập ác, ngũ nghịch: Thập ác là sát sanh, trộm cướp,
tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, nói lời thô ác, tham lam, giận hờn,
si mê, tà kiến. Ngũ nghịch là: làm cho thân Phật ra máu, giết cha, giết mẹ, giết
bậc hòa thượng A xà lê, phá sự hòa hợp của tăng chúng.
(28) Tăng kỳ (Samghika) dịch là Chúng số (số đông). Của tăng kỳ
tức là của thường trụ, của chung của số đông tăng chúng.
(29) Phạm hạnh: Hạnh thanh tịnh, xa lìa dâm dục.
(30) Tu Đà Hoàn (Srotàpanna phala), dịch là Nhập Lưu, có nghĩa
là bậc đã vào dòng thánh. Tu Đà hàm (Sakrdàgàmi), dịch là Nhứt Lai, có nghĩa là
bậc một phen trở lại cõi trần mới siêu thoát luân hồi. A Na Hàm (Anàgàmi) dịch
là bất lai, có nghĩa là không còn trở lại dục giới nữa, quả vị này sanh ngay
lên cõi trời Ngũ Bất Hoàn, tu cho đến khi chứng quả A La hán.
(31) Vi đà (Vedà) dịch là minh trí, kinh điển của hàng bà la
môn, có bốn loại: loại dạy phép dưỡng sanh, loại cúng tế cầu nguyện, loại bói
toán và loại phù chú.
(32) Mật tích Kim cang sĩ: Thiên thần cầm kim cang xử theo ủng
hộ Phật. Gọi là mật tích vì thần này thường theo Phật nghe những sự tích bản thệ
bí mật, hoặc các vị này do Phật, Bồ Tát thị hiện làm thần, tung tích rất bí mật,
chúng sanh không biết.
(33) Ô Sô quân đồ Ương câu thi (Ucchusma angùsa) Ô sô quân đồ
cũng gọi là Ô Sô Sa Ma, dịch là Uế Tích Kim Cang, Ương câu thi: có nghĩa là
Phúc Câu, tên một thứ vũ khí hình như cái móc. Đây là tên của một vị Minh vương
thần, có công đức chuyển uế thành tịnh, vị thần này và đầu chân lông đều phun
ra lửa, mặt mày phẫn nộ, có bốn cánh tay cầm những thứ vũ khí: gươm, dây roi,
xoa hoặc khúc câu.
(34) Bát bộ lực sĩ, Thưởng Ca La: Bát bộ lực sĩ chính là Thiên
Long bát bộ. Thưởng Ca La (Sankara) dịch là Cốt Tỏa Thiên, đây chính là tên vị
thiên thần bộ thuộc của đức Quán Âm, thống lãnh bát bộ.
(35) Ma Hê Na La Diên (Mahésvara Nàràyana): Ma hê gọi cho đủ là
Ma Hê Thủ La, có nghĩa Đại Tự Tại, dịch là lực sĩ hoặc Kiên cố. Đây là tên vị
thiên thần rất hùng mãnh, có ba con mắt, tám cánh tay, ở cõi Sắc Cứu Cánh.
(36) Kim Tỳ La Đá Ca Tỳ La: gọi tắt là Kim Tỳ La Đà
(Kumbhirabà) dịch là Oai Như Vương, thân hình sắc trắng hồng, tay trái cầm bảo
cung, tay mặt cầm bảo tiễn
(37) Bà Cấp Ta Lâu La: Ta Lâu La cũng gọi là Ca Lâu La, đây chỉ
cho vị thần thống lãnh loài Kim Súy Điểu.
(38) Mãn Thiện Xa Bát Chân Đà La: Chân Đà La tức Khẩn Na La,
đây là chỉ cho tên vị thần thống lãnh loài Nhơn Phi Nhơn.
(39) Tát Giá Ma hòa La: Ma Hòa La cũng gọi Ma Dà La (Makara) tức
là cá Ma Kiệt, loài cá này rất lớn, cơ thể dài đến 700 do tuần. Đây là tên chỉ
cho vị thần thống lãnh loài cá Ma Kiệt.
(40) Cưu Lan Đơn Trà Bán Chỉ La: cũng gọi là Bán Chỉ Ca
(panika), tức là vị đại thần đứng vào hàng thứ ba trong hàng tám vị Dược xoa đại
tướng.
(41) Tất Bà Già La Vương: tức là thọ thần vương, vị thần làm chủ
các loài cây.
(42) Ứng Đức Tì La Tát Hòa La: dịch là Hoan hỉ thần.
(43) Phạm Ma Tam Bát La: tức là Phạm Thiên vương.
(44) Ngũ Bộ Tịnh Cư Diêm Ma La: gọi tắt là Diêm Ma Thiên
(Suyàmadeva), vị Thiên tử quyết đoán những nghiệp lành dữ của chúng sanh.
(45) Thích Vương Tam thập tam: tức là trờI Đế Thích ở cõi trời Đao Lợi, làm chủ 33
cung trời, đây là chỉ cho vị Đế Thích cùng 32 vị thiên chủ tùy thuộc.
(46) Đại Biện Công Đức Bà Đát Na: Bà Đát Na dịch là Tăng Ích,
đây là chỉ cho Đại Biện Tài Thiên vương.
(47) Thần Mẫu Nữ, chúng đại lực: tức là thần Quỉ Tử Mẫu, thống
lãnh đại lực dạ xoa.
(48) Tỳ Lâu Lặc Xoa vương (Virùdhaka): Tăng trưởng thiên vương.
(49) Tỳ Lâu Bác Xoa Tỳ Sa Môn, gọi tắt là Tỳ Sa Môn (Vairasana)
tức Đa Văn Thiên Vương.
(50) Kim Sắc Khổng Tước Vương: tên một vị thần thân mình sắc
vàng rực, tay tả cầm phướng báu, trên báu có chim khổng tước (chim công).
(51) Ma Ni Bạt Đà La (Manibhadra) tức Bảo Hiền, một trong tám vị
Dược xoa đại tướng.
(52) Táng Chi Đại tướng, Phất La Bà: cũng gọi là Phất Bà La Ha
(Puspàraha) dịch là Thực Hoa, một trong tám vị Dược xoa đại tướng.
(53) Nan Đà, Bạt Nan Đà (Nanda, Upananda): dịch là Hoan Hỉ, Thiện
Hoan Hỉ. Tên của hai vị Long vương huynh đệ, Nan Đà là rồng lớn, Bạt Nan Đà là
rồng nhỏ. Hai vị Long vương này mỗi vị đều có bảy đầu, tay hữu cầm đao, tay tả
cầm dây.
(54) Bà Già La Long Y Bát La: Bà Già La dịch là Hàm Hải Long
Vương, Y Bát La dịch là Hương Diệp Long vương, mình rồng đầu voi.
(55) Cưu Bàn Trà vương, Tỳ xá xà: Cưu Bàn Trà (Kumbhànda) dịch
là Yểm Mị Quỷ, Tỳ Xá Xà (Pisàca) dịch là Đạm Tinh Khí Quỷ. Ðây là hai loại quỉ
vương trong bát bộ quỉ thần.
(56) Ma Kiệt: loại cá lớn, dài từ 300 đến 700 do tuần.
(57) Tam tai ác kiếp: Tam tai là hỏa tai, thủy tai, phong tai.
Ác kiếp có nghĩa là kiếp khổ sở, độc dữ. Khi thế giới này sắp tiêu tan, hỏa tai
làm hoại từ địa ngục đến cõi sơ thiền, thủy tai làm hoại đến cõi nhị thiền,
phong tai làm hoại đến cõi tam thiền.
(58) Ngũ vị tân: hành, hẹ, tỏi, nén, hưng cừ (hai thứ sau nước
ta không có).
(59) Bạt Chiết La (Vajra): dịch là Kim Cang Xử, đây cũng là một
loại chày Kim Cang.
(60) Bình quân trì dịch là tháo bình, tịnh bình, tức là bình để
rửa tay.
ĐẠI BI TRÌ NGHIỆM
Thanh Biện Luật sư, người xứ Tây Thiên Trúc, sức học uyên bác, rất thâm về vô tướng tông. Các ngoại đạo nghe danh, đến vấn nạn đều bị ngài dùng nghĩa không mà phá tất cả. Có một lần, luận sư gặp một nhà ngoại đạo nổi tiếng là giỏi, 2 bên tranh biện nhau hơn nửa ngày, ngoại đạo bị khuất lý mà vẫn cố chấp không chịu thua. Do đó, tự thân bỗng biến thành đá. Đến 6 tháng sau, nghe sấm nổ mớI phục nguyên lại thành người như trước.
Về sau, ngài xem bộ luận về Hữu Tướng Tông của Hộ Pháp Đại Sư, đem nghĩa học của mình đối chiếu vẫn không phá hoại được, mới than rằng: ‘Nếu không phải đức Di Lặc ra đời, thì ai giải quyết được mối nghi ngờ của ta?’ Nhân đó, ngài đến trước tượng Quán Tự Tại Bồ Tát, tụng chú Đại Bi tùy tâm đà ra ni 3 năm. Một đêm, đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hiện sắc thân tốt đẹp đến hỏi: ‘Ngươi tụng chú để mong cầu điều chi?’ Luận sư đáp: ‘Con nguyện lưu trụ thân đợi đến lúc Từ Thị Như Lai ra đờI để thưa hỏi về giáo nghĩa’. Bồ Tát nói: ‘Thân người mong manh, cõi đời hư huyễn, sao không tu thắng hạnh cầu mong lên trời Đâu Suất, chẳng là mau gặp gỡ hơn ư?’ Ngài thưa: ‘Đức Di Lặc tuy hiện trụ nơi nội viện cung trời thứ tư, nhưng chưa thành Phật, vì thế con muốn đợi đến lúc ngài hiện thành chánh giác nơi cõi nhơn gian. Chí con đã quyết định, không thể lay chuyển’. Bồ tát bảo: ‘Đã như thế, ngươi nên đi qua thành phía nam xứ Đại An Đạt La, thuộc về miền nam Thiên Trúc. Cách đó không xa, có một tòa sơn nham, chính là chỗ ở của thần Chấp Kim Cang. Sau khi đến nơi, ông nên đối trước sơn nham tụng chú Chấp Kim Cang Thần đà ra ni, sẽ được toại nguyện’.
Luận sư vâng lời, đi đến nơi, hành trì như thế. 3 năm sau, thần hiện ra và hỏi: ‘Ông cầu nguyện điều chi?’ Đáp : Tôi vưng lời đức Quán Thế Âm Bồ Tát mách bảo, đến đây trì tụng, nguyện lưu thân này sống mãi đợI đến khi Phật Di Lặc ra đời, xin tôn thần cho tôi được thành tựu như ý muốn’. Chấp Kim Cang thần bảo: ‘Trong sơn nham này có cung điện của thần A Tu La, ông nên gia trì chú Đại Bi trong hạt cải trắng, rồi liệng vào thì cửa đá sẽ mở. Sau khi ấy, ông nên đi thẳng vào trong, sẽ có phương tiện để cho ông trụ thân lâu dài mà chờ đợi’. Luận sư hỏi: ‘— trong cung động, cách biệt ngoài trần, khi Phật ra đời làm sao tôi được biết?’ Thần nói: ‘Chừng ấy, tôi sẽ cho ông hay’.
Ngài Thanh Biện lại y lời, tinh thành tụng chú trong hạt cải 3 năm, rồi liệng vào sơn nham, bỗng thấy vách đá mở ra, trong ấy hào quang chiếu sáng. Lúc bấy giờ, có rất đông đại chúng tề tựu đến xem, bàn bàn luận luận quên cả trở về. Luận sư tướng trạng an lành, buớc vào cửa đá, rồi day lại nói: ‘Tôi nguyện cầu đã lâu, muốn trụ thân này chờ đức Từ Thị ra đời, nhờ sức thánh linh, bổn nguyện từ đây đã toại, vậy đại chúng nên theo tôi, để được ngày kia thấy Phật nghe pháp’. Trong chúng nghe nói sợ hãi, cho là hang loại độc long, đi vào chắc mất thân mạng. Luận sư đôi ba phen gọi bảo, chỉ có 6 ngườI chịu đi theo mà thôi. Ngài từ tạ rồi dẫn 6 ngườI thong thả đi vào trong, cửa đá liền khép lại.
Lúc ấy đại chúng ở ngoài thấy vậy hết sức hối tiếc, trách mình đã nghĩ nói lỗi lầm.
Trích “Đường Tây Vực Ký”.
-Nước Ma Già Đà xứ Tây Thiên Trúc, có một người phật tử tại gia, tánh ưa sắc đẹp. Một hôm, nhân xem kinh thấy nói hàng A Tu La, người nam tuy xấu, nhưng người nữ lại xinh tốt tuyệt bậc, trong lòng sanh niệm mến thích, ước làm sao cùng được kết mối lương duyên. Không bao lâu, lại nghe nhiều vị bảo trong núi nọ có cung điện A Tu La rất nguy nga tráng lệ, báu lạ như thiên cung, liền quyết tâm trì chú Đại Bi 3 năm, cầu mong được viếng cảnh mầu để thỏa lòng ước nguyện khi trước.
3 năm đã mãn, ngườI ấy từ tạ thân hữu, và gọI một tên đệ tử cùng đi theo. Khi thầy trò đi đến trước núi, chí tâm tụng chú cầu nguyện, bổng cửa đá vụt mở, trong ấy lộ ra cung điện có quỷ thần canh giữ cực nghiêm. Vị phật tử liền bước đến nói rõ bổn nguyện của mình: trì chú muốn kết duyên cùng thần nữ A Tu La, xin nhờ thông báo, và thỉnh ý giùm. Kẻ giữ cửa vào thưa lại. A Tu La nữ nghe nói tỏ ý vui đẹp, hỏi: Đi đến có mấy ngườI? Đáp: Thưa hai người. Thần nữ bảo: Ngươi ra thuật lại ý ta đã thuận. Thỉnh ngườI trì chú mau vào, còn ông đồng bạn hãy tạm đứng ngoài cửa. Kẻ giữ cửa ra thưa lại, vị Phật tử liền đi vào trong.
Nhìn theo thầy mình đi rồi, người đệ tử còn đang bàng hoàng, bất giác bỗng tự thấy đã trở về đứng ở phía nam của nhà mình hồi nào không hay. Từ ấy về sau, ông này đã mấy lần đến chỗ cũ, song chỉ thấy vách đá đứng sững. Mây khói mịt mù, không còn được nghe biết tin tức gì bên trong nữa. Nhân đó, người đệ tử phát tâm lìa nhà tu hành, nguyện trọn đời ở nơi già lam cúng dường ngôi Tam bảo.
Khi ngài Huyền Trang sang Ấn Độ du học, đến trụ ở chùa Na Lan Đà, nghe chính ngườI đệ tử này thuật chuyện lại
Trích “Tây Quốc Chí”.
-Đời nhà Tống, Huệ Tài pháp sư, ngườI huyện Lạc Thanh, đất Vĩnh Gia, xuất gia hồi thuở còn bé, sau khi thọ đại giới, ngài đi tham học nhiều nơi mà không thông hiểu. Tự hận mình nghiệp chướng sâu dày, pháp sư thường tụng chú Đại Bi cầu cho được trí huệ. Hành trì đã lâu, bỗng một đêm ngài nằm mộng thấy một vị phạm tăng cao vài trượng, cởi áo ca sa đắp lên mình. Sau khi thức dậy, pháp sư thấy tâm trí tỏ sáng, những kinh nghĩa đã nghe từ trước đến giờ, một lúc đều nhớ rõ ràng thông suốt.
Về sau, ngài tham yết Từ Vân Sám chủ, hằng theo phục dịch gần bên, chỗ giải ngộ càng thêm sâu sắc. Niên hiệu Trị Bình năm đầu, ngài trụ ở Pháp Huệ bảo các, được vua tứ hiệu Quảng Từ. Không bao lâu, pháp sư lại thối cư về ở bên tháp Lôi Phong, tinh tu về môn Tịnh Độ. Ngài thường đứng co một chân trì chú Đại Bi 108 biến, lấy đó làm thường khóa. Lại đứng dở chân 1 ngày 1 đêm niệm thánh hiệu Di Đà. Một đêm, pháp sư mộng thấy mình đến chỗ cảnh giớI sáng suốt, nhiều cung điện lâu các trang nghiêm, có người bảo: ‘Tịnh độ trung phẩm là nơi thác sanh của ông’.
Mùa xuân niên hiệu Nguyên Phong năm đầu, ngài vì hàng đạo tục ngàn người, truyền giới ở Lôi Phong, khi vừa mớì làm phép yết ma, nơi đỉnh tượng đức Quán Thế Âm bỗng phóng ánh sáng rực rỡ, đèn đuốc cùng ánh mặt trời thảy đều lu mờ. Ngài Thủ Nhứt Thiền Sư ở chùa Tịnh Từ vì đó làm bài Giới Quang Ký.
Ngày 21 tháng 5 niên hiệu Nguyên Phong thứ 6, pháp sư tắm gội thay y phục lên giảng tòa, đề bài kệ khen Phật, rồi bảo đại chúng: ‘Ta chắc chắn được sanh về Tịnh Độ’, nói xong, ngồi yên lặng mà tịch, thọ được 86 tuổi.
Trích “Phật Tổ Thống Ký”.
– Đời nhà Thanh, Ngô doãn Thăng người ở Huy Châu, huyện Hấp, lúc tuổi trẻ thường qua lại buôn bán ở 2 châu Tô, Hàng. Một hôm, nhân có dịp đi qua Hồ Khâu, tình cờ gặp vị tăng đang hóa trai. Vị này nhìn chăm chú vào mặt ông một lúc lâu rồi nói: Ngươi cũng có căn lành, nhưng tiếc vì đến lúc 29 tuổi bị nạn chết đắm. Biết làm sao? Doãn Thăng sợ quá, cầu phương pháp giải thoát. Vị tăng trầm ngâm giây phút rồi bảo: Từ đây về sau, ngươi nên giớI sát, phóng sanh, niệm Phật và trì chú Đại Bi, may ra có thể khỏi được. Ngô Doãn Thăng y lờI, về nhà trì chú, niệm Phật và thường lấy đó khuyên người.
Qua năm 29 tuổI, ông thuê thuyền từ Hàng Châu về quê quán, bạn đồng hành có 16 người. Thuyền ra đi được vài mươi dặm, bỗng gió to sóng lớn nổI lên, thế rất nguy cấp. Doãn Thăng chợt nhớ lờI vị tăng nói khi trước, vộI vã chắp tay tụng chú, niệm Phật. Giây phút thuyền chìm, tất cả ngườI đi trong ấy đều bị sóng gió trôi giạt. Trong lúc hôn mê, ông bỗng nghe tiếng nói: Ngô Doãn Thăng có công trì chú niệm Phật và khuyên ngườI, được khỏi tai nạn này! Mở mắt tỉnh ra, nhìn xung quanh, ông thấy mình đã được dân chài lướI vớt lên bờ, y phục ướt đẫm, mũ giày đều bị nước cuốn đi mất, duy nơi tay còn cầm chắc xâu chuỗi 18 hột thường dùng để tụng niệm hằng ngày. Hỏi ra, thì 16 ngườI kia đã bị nước cuốn đi không tìm thấy tung tích.
Từ đó về sau, ông tin tưởng công đức niệm phật, trì chú không thể nghĩ bàn, từng dùng hương viên đốt nơi cánh tay thành bốn chữ ‘cầu sanh Tây phương’. Khi gặp ai ông cũng nói lý nhân quả, khuyên việc tu hành. Có được tiền, ông làm những công đức: tạo tượng, cất chùa, phóng sanh, bố thí, cùng các việc phước thiện khác. Danh lành của ông càng lúc càng truyền xa, cho đến tại vùng Hàng châu, tên Ngô Doãn Thăng đàn bà, trẻ con đều biết..
Ngày mùng một tháng năm, niên hiệu Đạo Quang thứ 9, khi lâm chung, ông giữ chánh niệm phân minh, tự nói: ‘Tôi thấy vô số Bồ Tát đi kinh hành ở trước mặt tôi’ Nói xong, ngồi yên mà qua đời, năm đó ông được 66 tuổi.
Trích “Nhiễn Hương Tục Tập”.
-Thời Trung Hoa Dân Quốc, ở Thai Châu có vị tăng hiệu Thích Kim Trược, xuất gia nơi chùa Diên Thọ hồi 8 tuổI, đến 20 tuổI, thọ đại giới tại chùa Quốc Thanh. Trên đường tu hành, vị đại đức thầy thế độ của ông, chỉ khuyên tụng chú Đại Bi và trì thánh hiệu Quán Thế Âm, y lời mỗI ngày sư tụng chú 48 biến, ngoài ra chỉ chuyên tâm niệm thánh hiệu không cho gián đoạn. Trì tụng lâu ngày, những thói quen trần nhiễm lúc trước lần lần tiêu mòn, tâm tánh lần lần tỉnh sáng, ông xem danh lợi cuộc đời như mây bay bọt nước. Sư thường vì ngườI trị bịnh rất là hiệu nghiệm, nhưng không thọ tiền thù đáp. Có nhiều kẻ cầu hỏi xin truyền cho phương pháp, ông bảo: ‘Tôi chỉ trì chú Đại Bi và niệm Quán Thế Âm mà thôi’. Trong năm Mậu Thìn (dân quốc), sư trụ ở một am nhỏ, ban đêm bị ăn cướp vào khảo tiền. Sau khi chúng xét khắp am, thấy không có chi, nổI giận, đâm ông một dao ở tay mặt và hai dao ở bên trán. Thương thế tuy nặng, nhưng sư không chết. Vết đâm cũng dần lành, để lại ba dấu thẹo lớn ăn sâu vào. Đây cũng là nghiệp trái nhiều kiếp, do công đức trì niệm, nên chuyển quả báo nặng thành ra quả nhẹ ở hiện đời. Mùa hạ năm Kỷ Tị, sư đến Ninh Ba định an cư ở chùa A Dục Vương, nhưng vì số dự chúng đã đủ, mấy lần xin gia nhập, cũng không được hứa nhận. Chưa biết sẽ đi về đâu, ông ngồi tĩnh tọa trọn nửa ngày, không có lời hờn trách, sắc oán hận. Vị giám tự tăng thấy thế, đưa sư đến tạm ở nơi Dưỡng tâm đường. Ngày mãn hạ, vị tăng quản đường lại theo quy lệ, không cho ở. Sư bảo: ‘Chẳng bao lâu tôi sẽ sanh về Tây phương, xin từ bi cho tôi lưu lại trong một thời gian ngắn nữa’. Đến ngày 19 tháng 10, sư nói vớI đại chúng rằng: ‘Trong vòng 3 hôm nữa, tôi sẽ thoát ly biển khổ, sanh về Cực Lạc, xin khuyên bạn đồng tu thành tâm trì chú niệm Phật hoặc niệm Quán Âm, quyết định sẽ được vãng sanh. Vì Phật không bao giờ nói dối’. Lại bảo đức Quán Thế Âm Bồ tát tay cầm đài bạc thường hiện ở trước tôi’. Chúng cho là lờI nói phô, tỏ vẻ không tin. Qua ngày 21, trước giờ ngọ, sư đắp y len chánh điện lễ Phật, lại đến trước vị tăng quản đường từ tạ, nói sau giờ ngọ thờI mình sẽ vãng sanh. Lúc ấy, mọI ngườI còn cho là lờI nói dối. œến giờ ngọ, sư cùng đại chúng thọ trai, ăn đủ hai chén như mọI ngày không giảm. Lại bảo bạn đồng liêu rằng: ‘Theo quy lệ của nhà chùa, ngườI chết đưa thi hài vào núi sâu, tiền công khiêng đi phải bốn giác. Nay tôi không có vật chi, chỉ còn đôi dép, xin phụng tặng, nhờ thầy lo liệu giùm việc ấy’.
Quả nhiên, sau thờI ngọ một giờ, sư ngồi day mặt về Tây, an ổn mà hóa.
Trích “Du Huệ Úc Sao Tập”.
– Ấn Quang đại sư, một vị cao tăng cận đại ở Trung Hoa, thuở sanh bình, hết sức tự tu và hoằng hóa pháp môn tịnh độ, thường khóa của ngài ngoài thờI niệm Phật chánh thức, lại kiêm trì chú Đại Bi. Đại sư tu hành tinh tấn, sức từ bi cảm hóa đến hàng dị loại.
Năm Dân quốc thứ 19, ngài trụ ở chùa Báo Quốc, tại Thái Bình, trong tịnh thất, bỗng sanh ra vô số rệp, nhiều cho đến nỗi nó bò lên song cửa, trên mặt bàn. Có mấy vị đệ tử lo nghĩ đại sư già cả, không kham chịu sự quấy nhiễu, đôi ba phen xin vào trong thất dọn bắt. Ngài không cho và bảo: ‘Việc này chỉ trách mình kém đạo đức mà thôi. Thuở xưa một vị cao tăng cũng bị loài rệp phá rối, chịu không kham. Quở bảo nó phải dờI đi nơi khác, chúng liền đem nhau bò đi. Nay ta tu trì bất lực, nên không được sự cảm ứng như thế, lại còn nói gì?’ Ròi đại sư vẫn an nhiên mà ở, không để ý đến. Ít lâu sau, loài rệp bỗng nhiên tuyệt tích, ngài cũng không nói cho ai biết. Lúc ấy, gần tiết Đoan Ngọ, Đức Sum pháp sư chợt nhớ đến việc trước hỏi thăm, ngài bảo: ‘đã đi hết từ lâu, không còn con nào nữa’. Pháp sư cho là ngài lớn tuổI, mắt mờ yếu nên không thấy, quyết ý xin vào trong xem lại, quả nhiên chúng đã đi đâu hết sạch. Hay là nó cũng vì ngài dờI chỗ ư?
Đại sư thường gia trì chú Đại Bi vào nước, gạo hoặc tro sạch để cứu những chứng bịnh mà các y sư đều bó tay, hiệu nghiệm lạ lùng. Một ngày, nơi lầu Tàng Kinh của chùa phát hiện ra vô số mối trắng, đại sư ở trong thất, nghe nói, liền trì chú vào nước bảo rưới lên chú nguyện, loài mối cũng kéo nhau đi mất.
Những đệ tử ở xa bị bịnh dây dưa không hết, ngài khuyên nên trì chú vào gạo nấu ăn cho đến chừng nào hết bịnh mới thôi. Phương pháp đó gọi là Đại Bi Phạn. Cách nấu cơm, theo đại sư, nên khéo nấu gạo nước cho vừa chừng, đừng đổ nước nhiều rồi chắt ra, vì như thế đã hao củi lại mất chất bổ trong cơm, làm phí phạm của tiền mà tổn phước. Thuở còn nhỏ, ngài hay đau yếu, có ngườI giỏi về tướng pháp cho rằng chỉ thọ đến 38 tuổI là cùng. Nhưng sau đại sư sống khoẻ mạnh đến 80 tuổI mớI vãng sanh. NgườI chí tâm tu niệm hay cải đổI số mạng. Việc ấy quả có như thế ư?
Trích “Ấn Quang Đại Sư truyện ký”.
LỜI BẠT
Đời càng đi sâu vào mạt pháp, sự khổ của nhơn loại càng thêm nhiều. Đó cũng là cộng nghiệp của chúng sanh chứa góp từ nhiều kiếp trước đến kiếp này, đã tới kỳ bộc phát. Túc-nghiệp đã sẵn, hiện nghiệp lại giúp duyên, như lửa gặp được dầu càng thêm lan cháy!
Thế-giới ngày nay, chiến tranh hết nơi này đến nơi khác, nhiều chứng bịnh lạ nảy sanh, trộm cướp hoành hành, nhơn dân nghèo khổ. Mỗi năm những tin tức bão lụt, động đất, nắng hạn, mất mùa, ở khắp các xứ không biết là bao nhiêu! Cảnh đã như thế, con người phần nhiều càng hung ác, gian xảo, không biết tỉnh thức ăn năn. Những thảm trạng do lòng tham địa vị, tình ái, tiền tài, kết quả gây ra tàn hại lẫn nhau cũng không xiết kể!
Kinh Hoa-Nghiêm nói: 'Tâm như người họa khéo, vẽ vời cảnh thế gian”. Cảnh đời vui khổ đã do hành vi lành dữ phát sanh từ tâm niệm của loài người thì muốn làm dịu bớt thảm trạng ngày nay, mỗi người phải tự tỉnh, ăn năn, giữ tám chữ: TRUNG, HIẾU, ĐỄ, TÍN, LỄ, NGHĨA, LIÊM, SỈ và tấm lòng chân thật ngay thẳng, biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Ngoài ra, muốn tiêu trừ nghiệp chướng, tránh khỏi họa tai, người biết Phật pháp lại cần phải cầu nơi tha lực như tu các hạnh niệm Phật, niệm Quán Thế Âm hoặc thọ trì mật chú nữa.
Xem kinh Quán Âm Đại Bi Tâm Đà Ra ni, tôi thấy những công đức an vui, thoát khổ trong ấy rất cần thiết đối vớI hiện cảnh ngày nay, nhân có một Phật tử yêu cầu phiên dịch, tôi liền vui lòng hứa nhận.
Theo trong Hiển Mật Viên Thông, người tu Chân ngôn về sắc trần cần phải rõ rệt, như quán nước phải ra nước, quán lửa phải ra lửa, chớ không thể khác được. Riêng về thinh trần thì dù tiếng tăm đọc tụng có trại vớI Phạm Âm đôi chút cũng không sao, miễn có lòng tin tưởng chí thành là được công hiệu. Vì thế, từ trước đến nay, hàng Phật tử ở Trung Hoa cho đến Việt-Nam ta, khi đọc tụng chú, thật ra đều trại vớI chánh âm, song vẫn cảm được oai thần công đức không thể nghĩ bàn. Vậy người học Phật, muốn trì chú, đừng lấy điểm này làm nghi, mà mất phần lợi ích.
Lại từ trước đến nay, chú ngữ không phiên dịch vì 5 duyên cớ:
1. Vì tâm niệm bí mật nên không phiên dịch
Như chúng sanh dùng tâm yên lặng, tin tưởng, thành kính mà niệm chú, tất sẽ khế hợp với chân tâm của Phật, Bồ Tát mà được cảm ứng. Nếu biết nghĩa lý thì dễ sanh niệm phân biệt, cho đoạn này nghĩa như vầy, đoạn kia nghĩa như thế, kết cuộc vẫn ở trong vòng vọng tưởng, làm sao thông cảm với Phật tâm?
2. Vì nghĩa lý bí mật nên không phiên dịch
Trong một chữ chân ngôn có nhiều nghĩa, nếu dịch nghĩa này thì mất nghĩa kia. Không được toàn vẹn. Thí dụ, riêng một chữ A đã hàm súc những nghĩa như bất sanh, bất diệt, không, căn bản, chân thể, và nhiều nghĩa khác nữa.
3. Vì danh tự bí mật nên không phiên dịch
Nhiều chữ trong chân ngôn, hoặc chỉ cho danh hiệu Phật, Bồ Tát, Thiên, Long, Quỷ Thần, như chữ HỒNG gồm 4 chữ HẠ, A, Ô, MA hiệp thành, chỉ cho chủng tử của chư thiên. Hoặc có thứ ở phương này không có, như danh từ Diêm Phù thọ chẳng hạn.
4. Vì âm thanh bí mật nên không phiên dịch
Các chữ chân ngôn có khi diễn tả âm thanh của tiếng gió reo, nước chảy, tiếng loài chim kêu, đọc lên có sức linh động, nên để nguyên âm. Thí dụ: câu “TÔ RÔ TÔ RÔ” là chỉ cho tiếng lá cây ở cõi Phật rơi xuống. Hoặc như chữ “ÁN” (Aum), đọc lên có năng lực thầm kín, làm rung chuyển không gian. Hay như chữ “TA-BÀ-HA” (svaha) có sức truyền cảm như một sắc lịnh. Lại có nhiều danh từ nguyên chữ Phạn sẵn từ trước đến nay, vì thuận theo xưa, nên không dịch ra.
5. Vì sự sanh thiện bí mật nên không phiên dịch
Như danh từ “Bát-nhã” người đọc lên sanh lòng tin tưởng, phát ra niệm lành, nếu dịch là trí huệ thì sanh lòng khinh thường, không quí trọng.
Trên đây là những nguyên nhân vì sao chú ngữ không dịch ra, chớ chẳng phải là không có ý nghĩa. Người học Phật phải nên xét nghĩ, chớ vội theo chỗ thấy hiểu cạn hẹp của mình, sanh lòng khinh mạn mà mang tội.
Lại trong kinh có câu: 'Nếu tụng trì đúng pháp, tự nhiên sẽ được hiệu quả'. Vậy tụng trì đúng pháp là sao? Trong đây xin chia ra hai phương diện:
1) Về mặt giữ gìn giới hạnh:
Người trì chú cần phải giữ trai giới, trừ sát, đạo, dâm, vọng, kiêng cữ rượu, thịt, hành, hẹ, tỏi cùng các thức ăn hôi hám. Thân thể thường phải năng tắm gộI, thay đổi y phục cho sạch sẽ, chớ để trong người có mùi hôi. Khi đại tiểu xong, phải rửa tay đọc chú. Trước khi trì chú phải súc miệng cho sạch. Lại nữa, trong thời gian kiết thất trì chú, ngườI ấy chớ nên nói chuyện hí hước tạp nhạp, không nên khởi tâm hờn giận, hoặc tham tưởng sự ăn uống ngủ nghỉ hay sự dục lạc ngoài đời. Phải giữ lòng thanh tịnh, tin tưởng, thành kính.
2) Về mặt lập đàn tụng niệm:
Theo đúng pháp, người trì chú nào phải thờ vị Bổn Tôn của chú ấy. Như trì chú Đại Bi thì phải thờ tượng Thiên Nhãn, hoặc tượng Quán Âm 24 tay, 18 tay, 8 tay, 4 tay hay ít lắm là tượng Quán Âm thường cũng được. Nên để tượng day mặt về phương Tây. ( Theo quyển “Bách Lục Thỉnh Quán Âm Nghi” thì nếu có tượng Bổn Sư nên để tượng Thích Ca hướng về phương Nam, tượng Quán Âm hướng về phương Đông). Đàn tràng nên lựa chỗ vắng lặng sạch sẽ, thường dùng hương, hoa, nước trái cây, cùng các thứ ăn uống cúng dường tôn tượng. Nếu có phương tiện, treo tràng phan, bảo cái lại càng tốt. Thời gian cầu nguyện hoặc 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày nên giữ cho đúng. Trước khi vào đàn, phải kiết giới y như kinh đã chỉ dạy. Trong một ngày đêm, chia ra làm 3, 4 hoặc 6 thờI, tụng niệm tiếp tục, tiếng tụng cần phải rành rẽ, rõ ràng. Ngoài ra, nghi thức lễ bái, trì niệm cũng cần phải biết và học thuộc trước.
Trên đây là nói về cách lập đàn kiết giới tụng niệm để cầu cho được mau hiệu nghiệm, nếu người thường tụng trì, không bắt buộc phải theo lệ ấy. Nhưng trong 2 phương diện trên, gắng giữ được phần nào lại càng hay.
Chúng sanh căn cơ, tâm bịnh, sở thích vô cùng. Giáo môn của Phật, Bồ Tát cũng chia ra vô lượng, dịch ra quyển này, tôi chỉ kính vâng theo bi nguyện của chư Phật, Bồ Tát, và thuận với sự mong cầu, thích hợp của hành nhơn mà thôi. Nếu vị nào lấy tâm Bồ Đề làm nhân, tùy theo chí nguyện, lựa một pháp môn tu đều có thể giải thoát. Nhưng, chúng sanh đờI mạt pháp, phần nhiều là hàng trung, hạ, ít có bậc thượng căn, cần nương nhờ nơi tha lực mới mong được kết quả chắc chắn. Tịnh tông và Mật Tông đều thuộc về tha lực pháp môn, mà Tịnh tông lại là chỗ quy túc cho các tông khác.
Nguyện xin các đồng nhơn, từ đây dứt dữ làm lành, tin sâu lý nhân quả, rồi hoặc chuyên niệm Phật, hoặc lấy niệm Phật làm chánh, tụng kinh, trì chú, tham thiền làm trợ, để tự tu và khuyên người. Như thế mới là mưu hạnh phúc cho chính mình, cho thân nhơn và tất cả sanh loại. Như thế mới có thể chuyển họa thành phước, đổi cảnh trạng thống khổ trước mắt thành cảnh giới an ổn, vui tươi. Để rồi ngày lâm chung, lại được cùng nhau chân bước lên chín phẩm liên đài, thân ra khỏi 3 ngàn thế giới, thấy Di Đà trong hiện kiếp, chứng đạo giác nơi tương lai.
Như vậy chẳng quý hơn ư?
LIÊN DU
Thích Thiền-Tâm
THIÊN THỦ THIÊN NHÃN
ĐẠI BI SÁM PHÁP
(Hương đèn đốt xong, chủ lễ quỳ trước bàn Phật mật niệm).
PHỔ THANH TỊNH CHÂN NGÔN
UM! SOA PHẠ VA SUÝT ĐA, SẠT VA ĐẠT MA,
SOA PHẠ VA SUÝT ĐA HÀM.
UM! LAM LAM LAM.
(7 lần)
(Tác bạch cúng hương)
Hương thơm giăng bủa,
Thánh đức tỏ tường,
Bồ đề tâm rộng chẳng suy lường,
Tùy chỗ phóng hào quang,
Lành tốt phi thường.
Dâng cúng pháp trung vương.
Nam mô Hương cúng dường Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
(vẫn quỳ, tiếp bạch)
Kính lạy đời quá khứ
Chính Pháp Minh Như Lai
Chính là đời hiện nay
Quán Thế Âm Bồ Tát
Bậc thành công đức diệu
Đủ lòng đại từ bi
Nơi trong một thân tâm
Hiện ra ngàn tay mắt
Soi thấu khắp pháp giới
Hộ trì các chúng sanh
Khiến phát lòng đạo sâu
Dạy trì chú Viên Mãn
Cho xa lìa đường ác
Được sanh trước Như Lai
Những tội nặng vô gián
Cùng bịnh ác lâm thân,
Khó nỗi cứu vớt được
Cũng đều khiến tiêu trừ
Các tam muội, biện tài
Sự mong cầu hiện tại
Đều cho được thành tựu
Quyết định chẳng nghi sai
Khiến mau được ba thừa
Và sớm lên quả Phật
Sức oai thần công đức
Khen ngợi chẳng hay cùng!
Cho nên con một lòng
Quy mạng và đảnh lễ
Nhứt tâm đảnh lễ :
(mỗi hiệu lạy một lạy)
1.- Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn
2.- Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Thế Tôn
3.- Quá khứ vô lượng ức kiếp Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Thế Tôn
4.- Quá khứ cửu thập cửu ức Căn Già Sa chư Phật Thế Tôn
5.- Quá khứ vô lượng kiếp Chánh Pháp Minh Thế Tôn
6.- Thập phương nhứt thiết chư Phật Thế Tôn
7.- Hiền kiếp thiên Phật, tam thế nhứt thiết chư Phật Thế Tôn
8.- Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà ra ni thần diệu chương cú (3 lần xưng 3 lần lạy)
9.- Quán Âm sở thuyết chư đà ra ni cập thập phương tam thế nhứt thiết tôn Pháp
10.- Thiên thủ thiên nhãn, đại từ đại bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần xưng 3 lần lạy)
11.- Đại Thế Chí Bồ Tát Ma ha tát
12.- Tổng Trì Vương Bồ Tát Ma ha tát
13.- Nhựt Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát ma ha tát
14.- Bảo Vương Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát Ma ha tát
15.- Hoa Nghiêm Bồ Tát, Đại Trang Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát Ma ha Tát
16.- Đức Tạng Bồ Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát ma ha tát
17.- Di Lặc Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha tát
18.- Thập phương tam thế nhứt thiết Bồ tát ma ha tát
19.- Ma ha Ca Diếp tôn giả vô lượng vô số đại thanh văn tăng
20.- Xiển Thiên Thai giáo quán Tứ Minh Tôn Giả Pháp Trí Đại Sư
21.- Nhứt tâm đại vị :
Thiện Tra Phạm Ma, Cù Bà Già thiên tử, Hộ thế tứ vương, thiên long bát bộ, Đồng Mục thiên nữ, Hư không thần, giang hải thần, tuyền nguyên thần, hà chiểu thần, dược thảo thọ lâm thần, xá trạch thần, thủy thần, hỏa thần, phong thần, thổ thần, sơn thần, thạch thần, cung điện thần, tịnh thủ hộ trì chú nhứt thiết thiên, long, quỉ thần cập các quyến thuộc đảnh lễ Tam Bảo (3 lạy)
(Đảnh lễ xong trì tụng)
Kinh nói: Nếu có vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, hay đồng nam, đồng nữ nào, muốn tụng trì chú này, trước tiên phải phát tâm đại từ đối với chúng sanh và sau đây y theo tôi mà phát nguyện:
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau biết tất cả pháp.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được mắt trí huệ
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau độ các chúng sanh
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được phương tiện khéo
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau lên thuyền bát nhã
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm.
Nguyện con sớm được qua biển khổ
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau được đạo giới định.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm lên non Niết Bàn
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau về nhà vô vi,
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng tâm pháp tánh.
Nếu con hướng về nơi non đao,
Non đao tức thời liền sụp đổ,
Nếu con hướng về lửa nước sôi
Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hướng về cõi Địa ngục
Địa ngục liền mau tự tiêu tan
Nếu con hướng về loài ngạ quỷ
Ngạ quỉ liền được tự no đủ
Nếu con hướng về chúng Tu La
Tu La tâm ác tự điều phục
Nếu con hướng về các súc sanh,
Súc sanh tự được trí huệ lớn.
(chí tâm niệm)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm (10 câu)
Nam mô A Di Đà Phật (10 câu)
(Tụng tiếp)
Quán Thế Âm Bồ tát lại bạch Phật: - Bạch đức Thế Tôn, nếu chúng sanh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào 3 đường ác, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sanh về các cõi Phật, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng tam muội biện tài, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại nếu không được vừa ý, thì chú này không được gọi là Đại Bi Tâm Đà Ra Ni…
Khi đức Quán Thế Âm Bồ Tát nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội, chắp tay đứng thẳng, đối với chúng sanh khởi lòng từ bi, nở mặt mỉm cười, nói chương cú mầu nhiệm Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni rằng:
ĐẠI BI TÂM ÐÀ RA NI
Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da.1
Nam-mô a rị da2, bà lô yết đế thước bác ra da3, Bồ-đề tát đỏa bà da4, ma ha tát đỏa bà da5, ma ha ca lô ni ca da6, án7, tát bàn ra phạt duệ8, số đát na đát tỏa9.
Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da10, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà11.
Nam-mô na ra cẩn trì12, hê rị ma ha bàn đa sa mế13, tát bà a tha đậu thâu bằng14, a thệ dựng15, tát bà tát đa, na ma bà tát đa, na ma bà già16, ma phạt đạt đậu17, đát điệt tha.
Án18, a bà lô hê19, lô ca đế20, ca ra đế21, di hê rị22, ma ha bồ-đề tát đỏa23, tát bà tát bà24, ma ra ma ra25, ma hê ma hê, rị đà dựng26, cu-lô cu-lô kiết mông27, độ lô độ lô, phạt xà da đế28, ma ha phạt xà da đế29, đà ra đà ra30, địa rị ni31, thất Phật ra da32, dá ra dá ra33.
Mạ mạ phạt ma ra34, mục đế lệ35, y hê di hê36, thất na thất na37, a ra sâm Phật ra xá-lợi38, phạt sa phạt sâm39, Phật ra xá da40, hô lô hô lô ma ra41, hô lô hô lô hê lỵ42, ta ra ta ra43, tất rị tất rị44, tô rô tô rô45, bồ-đề dạ bồ-đề dạ46, bồ-đà dạ bồ-đà dạ47, di đế rị dạ48, na ra cẩn trì49, địa rị sắc ni na50, ba dạ ma na51, ta bà ha52.
Tất đà dạ53, ta bà ha54. Ma ha tất đà dạ55, ta bà ha56. Tất đà du nghệ57, thất bàn ra dạ58, ta bà ha59. Na ra cẩn trì60, ta bà ha61. Ma ra na ra62, ta bà ha63. Tất ra tăng a mục khê da64, ta bà ha65. Ta bà ma ha, a tất đà dạ66, ta bà ha67.
Giả kiết ra a tất đà dạ68, ta bà ha69. Bà đà ma yết tất đà dạ70, ta bà ha71. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ72, ta bà ha73. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ74, ta bà ha75.
Nam-mô hắt ra đát na, đa ra dạ da76.
Nam-mô a rị da77, bà lô yết đế78, thước bàng ra dạ79, ta bà ha80.
Án tất điện đô81, mạng đa ra82, bạt đà dạ83, ta bà ha84.
(Tụng chú Đại-Bi, tùy sức tụng 7 biến hoặc 21 biến và nhiều nữa càng tốt).
Đức Quán-thế-Âm Bồ-tát nói bài chú này xong, cõi đất sáu phen biến động, trên trời rải các hoa báu, tung bay rơi xuống, các đức Phật mười phương đều tỏ lòng hoan hỷ.
Thiên-ma, ngoại đạo sợ hãi rùng mình hết thảy chúng hội đều được chứng quả Tu-đà-hoàn, có vị chứng quả Tư-đà-hàm, có vị chứng quả A-la-hán, cũng có vị chứng lên nhất-địa, nhị-địa, tam-địa, tứ-địa, ngũ-địa cho đến thập-địa, không lường chúng sanh đều phát tâm Bồ-đề.
Chí tâm sám hối:
Đệ tử .... cùng pháp-giới chúng- sanh, hiện-tiền một tâm, vẫn đủ ngàn pháp, đều có sức thần, cùng với trí sáng, trên sánh chư Phật, dưới đồng muôn loài. Bởi niệm vô-minh, che ánh sáng kia, nên đối cảnh hôn mê, khởi lòng chấp nhiễm, trong pháp bình-đẳng, sanh tưởng ngã nhơn. Lại do ái-kiến làm gốc, thân miệng làm duyên, trong nẻo luân hồi, gây nên đủ tội: thập-ác ngũ nghịch, báng pháp báng người, phá giới phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng-kỳ, bức người tịnh-hạnh, xâm tổn thường-trụ, đồ vật thức ăn, dù ngàn Phật ra đời, khó bề sám hối. Những tội như thế, không lường không ngần, khi bỏ bảo thân, phải đọa tam-đồ, chịu vô-lượng khổ.
Lại trong đời này, do túc, hiện chướng, hoặc bị các nghiệp: lửa phiền thiêu đốt, tật bịnh vây quanh, duyên ngoài lôi cuốn, tà ma quấy nhiễu, làm ngăn đạo pháp, khó nổi tiến tu.
May gặp thần-chú, Viên-Mãn Đại-Bi (xá), có thể mau trử, những tội như thế, cho nên nay con, hết lòng tụng-trì, con nguyện nương về, Quán- Âm Bồ-tát, cùng Phật mười phương (xá), phát lòng bồ-đề, tu hạnh chân- ngôn, cùng với chúng-sanh, tỏ bày các tội, cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu trừ.
Nguyện đấng Đại-bi, Quán-Âm Bồ-tát, ngàn tay nâng đỡ, ngàn mắt chiếu soi, khiến cho chúng con, duyên chướng trong ngoài, thảy đều dứt sạch, mình, người, hạnh nguyện, cùng được viên thành, mở tánh bản-tri, dẹp trừ ma-ngoại, ba nghiệp siêng cần, tu nhân tịnh-độ.
Nguyện cho chúng con, khi bỏ thân này, không vào đường khác, quyết được sanh về, thế giới Cực-Lạc của Phật Di Đà, rồi được thừa sự, Đại-Bi Quán Âm đủ các tổng-trì, rộng độ quần phẩm, đồng thoát khổ-luân, đều thành Phật-đạo.
Đệ tử ... sám hối, phát nguyện rồi xin qui mạng đảnh lễ Tam bảo:
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Phật (lạy)
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp (lạy)
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng (lạy)
Nam mô Bồn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (lạy)
Nam-mô A Di Đà (lạy)
Nam mô Thiên-quang-vương Tịnh-trụ Phật (lạy)
Nam mô Quảng-đại Viên-mãn Vô-ngại Đại-bi-tâm Đại-đà-la- ni (lạy)
Nam-mô Thiên thủ Thiên-nhân Quán thế âm Bồ-tát (lạy)
Nam-mô Đại-thế-chí Bồ-tát (lạy)
Nam-mô Tổng-trì-vương Bồ-tát (lạy)
Tự qui y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (lạy)
Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển (lạy)
Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh quảng lý đại chúng, hết thảy không ngại (lạy)
Nguyện đem công đức này,
Trang nghiêm cõi Phật tịnh,
Trên báo bốn trọng ân,
Dưới cứu ba đường khổ,
Nếu có ai thấy nghe,
Hướng về lòng Đại-bi,
Khi bỏ báo thân này,
Đều sanh nước cực lạc.
Nam-mô Đại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát (3 lần xưng và nhập quán)
CHUNG



















































































Comments
Post a Comment