HOA-NGHIÊM NGUYÊN-NHÂN LUẬN TỰ

華嚴原人論序

 

LỜI TỰA


LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN CÓ LOÀI NGƯỜI CỦA

 KINH HOA-NGHIÊM

 

 

VẠN-LINH XUẨN-XUẨN, GIAI HỮU KỲ BỔN .

萬靈蠢蠢。皆有其本

MUÔN-LINH NHÚC-NHÚC, CHÚNG ĐỀU CÓ GỐC.

 

VẠN VẬT VÂN VÂN, CÁC QUY KỲ CĂN.

萬物芸芸。各歸其根

MUÔN VẬT NHÔ-NHÔ, CẢ ĐỀU VỀ CĂN.

 

VỊ HỮU VÔ CĂN BỔN NHI HỮU CHI MẠT GIẢ DÃ. HUỐNG TAM-TÀI TRUNG CHI TỐI LINH, NHI VÔ BỔN-NGUYÊN HỒ ?

未有無根本而有枝末者也。況三才中之最靈。而無本源乎。

CHƯA HỀ CÓ VẬT GÌ KHÔNG  CĂN BỔN MÀ CÓ NHÁNH NGỌN BAO GIỜ. PHƯƠNG CHI, HỌ ĐÃ BẢO RẰNG GIỮA TAM-TÀI, LOÀI NGƯỜI KHÔN-THIÊNG HƠN CẢ MÀ HÁ LẠI KHÔNG CÓ NGUỒN-GỐC Ư ?

 

THẢ TRI NHÂN GIẢ TRÍ, TỰ TRI GIẢ MINH.

且知人者智。自知者明

VẢ LẠI, TA BIẾT NGƯỜI LÀ KHÔN, TA BIẾT TA LÀ SÁNG.

 

NGÃ KIM  BẨM ĐẮC NHÂN-THÂN, NHI BẤT TỰ TRI SỞ TÒNG  LAI, HẠC NĂNG TRI THA THẾ SỞ THÚ HỒ ?

我今稟得人身。而不自知所從來。曷能知他世所趣乎

ĐỜI NAY TA CHỊU ĐƯỢC CÁI THÂN NGƯỜI ĐÂY, ĐÃ CHẲNG TỰ BIẾT TỪ ĐÂU ĐẾN, LẠI LÀM GÌ BIẾT ĐƯỢC CHỔ SẼ ĐẾN ĐỜI SAU ?

 

HẠC NĂNG TRI THIÊN HẠ CỔ KIM NHÂN SỰ HỒ ?

曷能知天下古今人事乎

VÀ LÀM GÌ BIẾT ĐẶNG VIỆC NGƯỜI TỪ XƯA NAY GIỮA THIÊN HẠ ?

 

CỐ SỔ THẬP NIÊN TRUNG, HỌC VÔ THƯỜNG SƯ, BÁC KHẢO NỘI NGOẠI, DĨ NGUYÊN TỰ THÂN, NGUYÊN CHI BẤT DĨ, QUẢ ĐẮC KỲ BỔN.

故數十年中。學無常師。博考外。以原自身。原之不已。果 得其本

NÊN TRONG MẤY CHỤC NĂM, HỌC VỚI NHIỀU THẦY, XÉT RỘNG CẢ KINH SÁCH : TRONG ĐẠO, NGOÀI ĐỜI, ĐỂ XÉT THÂN MÌNH, XÉT MÃI CHẲNG THÔI, HẲN TÌM ĐẶNG GỐC.

 

NHIÊN, KIM TẬP NHO ĐẠO GIẢ, KỲ TRI CẬN TẮC NÃI TỔ NÃI PHỤ, TRUYỀN THỂ TƯƠNG TỤC, THỤ THỬ THÂN; VIỄN TẮC HỖN ĐỘN NHỨT KHÍ, PHẪU VI ÂM DƯƠNG CHI NHỊ, NHỊ SANH THIÊN ĐỊA NHÂN TAM, TAM SANH VẠN VẬT, VẠN VẬT DỮ NHÂN, GIAI KHÍ VI BỔN.

然今習儒道者。祇知近則乃祖乃父。傳體相續。受得此身。遠則混沌一氣。剖為陰陽之二。二生天地人三。三生萬物。萬物 與人。皆氣為本

SONG, NHỮNG NGƯỜI HỌC ĐẠO NHO ĐẠO TIÊN. VỚI GẦN, HỌ CHỈ BIẾT TỪ ÔNG ĐẾN CHA, CHUYỀN VÓC NỐI NHAU CHỊU ĐẶNG THÂN ĐÂY. VỚI XA, HỌ CHỈ BIẾT TỪ KHÍ HỔN ĐỘN PHÂN LÀM ÂM DƯƠNG LÀ 2, HAI ẤY SANH RA TRỜI, ĐẤT, NGƯỜI LÀ 3, BA ẤY SANH RA VẠN VẬT; MUÔN VẬT CÙNG NGƯỜI , ĐỀU LẤY KHÍ LÀM GỐC.

 

TẬP PHẬT-PHÁP GIẢ, ĐÃN VÂN CẬN TẮC TIỀN SANH TẠO NGHIỆP, TÙY NGHIỆP THỌ BÁO, ĐẮC THỬ NHÂN THÂN; VIỄN TẮC NGHIỆP HỰU TÒNG HOẶC, TRIỂN CHUYỂN NÃI CHÍ A-LẠI-DA-THỨC, VI THÂN CĂN BỔN.

習佛法者。但云近則前生造業。隨業受報。得此人身。遠則業又從惑。展轉乃至阿賴耶識。為身根本。

NHƯNG KẺ HỌC PHÁP PHẬT, PHÁI THÌ CHỈ NÓI : VỚI GẦN LÀ TỪ CÁI “NGHIỆP” ĐÃ TẠO ĐỜI TRƯỚC, RỒI TÙY THEO NGHIỆP ĐẾN CHỊU QỦA BÁO, MÀ ĐẶNG CÁI THÂN NGƯỜI  ĐÂY; PHÁI THÌ NÓI : VỚI XA LÀ NGHIỆP LẠI DO “MÊ LẦM”, KẾ ĐẾN CHO LÀ “A-LẠI-DA-THỨC” LÀM CĂN BỔN CHO THÂN NẦY.

 

GIAI VỊ DĨ, CÙNG KỲ LÝ, NHI THẬT VỊ DÃ.

皆謂已窮其理。而實未也

CÁC HỌC GIẢ TRÊN, ĐỀU BẢO ĐÃ TỘT LẼ NHÂN-SINH RỒI, CHỨ THẬT RA THÌ CHƯA PHẢI LÀ CÁI LÝ-ẤY ĐÃ CÙNG ĐÂU !

 

NHIÊN KHỔNG, LÃO, THÍCH-CA GIAI THỊ CHÍ THÁNH, TÙY THỜI ỨNG VẬT, THUYẾT GIÁO THÙ ĐỒ, NỘI NGOẠI TƯƠNG TƯ CỘNG LỢI QUẦN THỨ.

然孔老釋迦。皆是至聖。隨時應物。設教殊途。外相資。共 利羣庶

SONG, CÁC ĐỨC : KHỔNG-TỬLÃO-TỬTHÍCH-CA ĐỀU LÀ BẬC CHÍ-THÁNH, TÙY THỜI THUYẾT GIÁO DẠY NGƯỜI, LẬP PHÁP KHÁC ĐƯỜNG, TRONG NGOÀI GIÚP NHAU, CÙNG LỢI QUẦN SANH.

 

NHỊ GIÁO DUY QUYỀN, PHẬT KIÊM QUYỀN THẬT.

二教惟權。佛兼權實

HAI GIÁO KIA CHỈ LÀ PHÁP QUYỀN, PHẬT-GIÁO GỒM CẢ QUYỀN VÀ THẬT.

 

NHIÊN, ĐƯƠNG KIM HỌC-SĨ, CÁC CHẤP NHỨT TÔNG, TỰU SƯ PHẬT GIẢ, NHƯNG MÊ THẬT NGHĨA. CỐ Ư THIÊN ĐỊA NHÂN VẬT, BẤT NĂNG NGUYÊN CHI CHÍ NGUYÊN !

然當今學士各執一宗。就師佛者。仍迷實義。故於天地人物。不能原之至源

SONG, NGƯỜI HỌC THỜI NAY HỌC TÔNG NÀO THÌ CHẤP TÔNG-PHÁI ẤY, CHO ĐẾN NGƯỜI HỌC-PHẬT, VẪN KHÔNG HIỂU ĐẶNG NGHĨA CHÂN THẬT, NÊN VỚI TRỜI ĐẤT NGƯỜI VẬT, CHẲNG XÉT THẤU TẬN NGUỒN GỐC ĐƯỢC  !

 

DƯ KIM HUỜN Y NỘI NGOẠI GIÁO-LÝ, SUY CÙNG VẠN PHÁP.

余今還依外教理。推窮萬法

TA NAY TRỞ LẠI NƯƠNG CẢ GIÁO-LÝ NỘI  VÀ NGOẠI, ĐỂ XÉT TỘT MUÔN PHÁP.

 

SƠ TÒNG THIỂN CHÍ THÂM, Ư TẬP QUYỀN-GIÁO GIẢ, XÍCH TRỆ LINH THÔNG, NHI CỰC KỲ BỔN; HẬU Y LIỂU-GIÁO, HIỂN THỊ TRIỂN CHUYỂN SANH KHỞI CHI NGHĨA, HỘI THIÊN LINH VIÊN, NHI CHÍ Ư MẠT.

初從淺至深。於習權教者。斥滯令通。而極其本。後依了教。顯示展轉生起之義。會偏令圓。而至於末

TRƯỚC TỪ CẠN ĐẾN SÂU, VỚI KẺ HỌC QUYỀN-GIÁO, QUỞ TRÁCH CHỔ NGĂN TRỆ KIẾN ĐƯỢC THÔNG SUỐT, ĐỂ TỘT ĐẾN GỐC; SAU NƯƠNG GIÁO LIỂU-NGHĨA, CHỈ RÕ LẼ LẦN LƯỢT SANH KHỞI, GOM LỆCH CHO TRÒN, ĐỂ ĐẾN VỚI NGỌN.

 

VĂN  HỮU TỨ THIÊN, DANH NGUYÊN NHÂN LUẬN.

文有四篇。名原人論。

VĂN CÓ 4 THIÊN, DANH-ĐỀ LÀ “NGUYÊN NHÂN LUẬN”.




THIÊN THỨ NHỨT

 

NHẤT XÍCH MÊ CHẤP

一斥迷

QUỞ TRÁCH KẺ HỌC NHO, TIÊN MÀ CHẤP MÊ

 

NHO ĐẠO NHỊ GIÁO, THUYẾT NHÂN SÚC ĐẲNG LOẠI, GIAI THỊ HƯ VÔ ĐẠI ĐẠO SANH THÀNH DƯỠNG DỤC.

儒道二教。人畜等類。皆是虗無大道生成養育。

HAI NHÀ ĐẠO-NHO ĐẠO-TIÊN, ĐỀU NÓI CÁC LOÀI : NGƯỜI, SÚC…ĐỀU DO NƠI CÁI ĐẠO-LỚN HƯ-VÔ ĐẺ NÊN NUÔI NẤNG.

 

VỊ ĐẠO PHÁP TỰ NHIÊN, SANH Ư NGƯƠN-KHÍ, NGƯƠN-KHÍ SANH THIÊN ĐỊA, THIÊN ĐỊA SANH VẠN VẬT.

謂道法自然。生於元氣。元氣生天地。天地生萬物。

HỌ BẢO RẰNG : “ĐẠO Y NƠI LẼ TỰ-NHIÊN, RỒI SANH RA NGƯƠN-KHÍ; NGƯƠN-KHÍ ĐẺ RA TRỜI ĐẤT; TRỜI ĐẤT NỞ RA MUÔN VẬT.

 

CỐ TRÍ NGU QUÝ TIỆN,  BẦN PHÚ KHỔ LẠC, GIAI BẨM Ư THIÊN, DO Ư THỜI MẠNG.

故智愚貴賤。貧富苦樂。皆稟於天。由於時命。

NÊN KẺ KHÔN NGƯỜI DẠI, KẺ SANG NGƯỜI HÈN, KẺ KHỔ NGƯỜI VUI, ĐỀU BẨM THỌ NƠI TRỜI, DO NƠI THỜI VẬN VỚI MẠNG SỐ.

 

CỐ TỬ HẬU KHƯỚC QUY THIÊN ĐỊA, PHỤC KỲ HƯ-VÔ.

故死後卻歸天地。復其虗無

NÊN SAU KHI CHẾT, TRỞ VỀ TRỜI ĐẤT, HUỜN LẠI NƠI HƯ-VÔ.

 

NHIÊN, NGOẠI GIÁO TÔNG CHỈ,   ĐÃN TẠI HỒ Y THÂN LẬP HẠNH, BẤT TẠI CỨU CÁNH THÂN CHI NGUYÊN DO.

然外教宗旨。但在乎依身立行。不在究竟身之原由

SONG, TÔNG-CHỈ CỦA NGOẠI-GIÁO,  CHÍNH Ở NƠI  NƯƠNG THÂN LẬP HẠNH, KHÔNG Ở NGUYÊN-DO XÉT TỘT THÂN.

 

SỞ THUYẾT VẠN VẬT BẤT LUẬN TƯỢNG NGOẠI.

萬物。不論象外。

CÓ NÓI ĐẾN VẠN VẬT, CŨNG CHẲNG BÀN ĐẾN NGOÀI TƯỢNG TRỜI…

 

TUY CHỈ  ĐẠI-ĐẠO VI BỔN, NHI BẤT BỊ MINH THUẬN NGHỊCH KHỞI DIỆT NHIỄM TỊNH NHÂN DUYÊN.

雖指大道為本。而不備明順逆起滅染淨因

MẶC DÙ CHỈ ĐẠI-ĐẠO LÀM GỐC MÀ HỌ CHẲNG ĐỦ LẼ ĐỂ NÓI RÕ NHỮNG NHÂN DUYÊN: THUẬN NGHỊCH, SINH DIỆT VÀ NHIỄM TỊNH GÌ.

 

CỐ TẬP GIẢ BẤT NHƯ THỊ QUYỀN, CHẤP CHI VI LIỄU.

故習者不如是權。執之為了

NẾU KẺ-HỌC CHẢ BIẾT LÀ PHÁP QUYỀN, LẠI CHẤP CHO LÀ LIỄU NGỘ.

 

KIM LƯỢC CỬ NHI CẬT CHI.

今略舉而詰之

GIỜ ĐÂY, SƠ LƯỢC TRÍCH RA, ĐỂ GẠN HỎI ĐÓ.

 

SỞ NGÔN VẠN VẬT GIAI TÒNG ĐẠI-ĐẠO NHI SANH GIẢ, ĐẠI ĐẠO TỨC THỊ SANH TỬ HIỀN NGU CHI BỔN, KIẾT HUNG HỌA PHÚC CHI CƠ.

所言萬物。皆從大道而生者。大道即是生死賢愚之本。吉凶禍 福之基。

CHỖ MÀ HỌ NÓI “ VẠN VẬT ĐỀU DO NƠI : ĐẠI-ĐẠO ĐẺ SANH RA” ĐÓ, THÌ ĐẠI-ĐẠO CHÍNH LÀ GỐC CỦA SANH TỬ, HIỀN NGU VÀ LÀ CÁI NỀN CỦA KIẾT HUNG, HỌA PHÚC.

 

CƠ BỔN KÝ KỲ THƯỜNG TỒN, TẮC HỌA LOẠN HUNG NGU BẤT KHẢ TRỪ DÃ; PHƯỚC KHÁNH HIỀN THIỆN BẤT KHẢ ÍCH DÃ.

基本既其常存。則禍亂凶愚。不可除也。福慶賢善。不可益 也

“NỀN GỐC” ĐÃ LÀ THƯỜNG CÒN, THÌ VỚI ĐIỀU HỌA, CƠN LOẠN, ĐỨA HUNG, KẺ NGU, CHẲNG THỂ TRỪ ĐƯỢC ! VIỆC PHƯỚC, SỰ MAY, BẬC HIỀN, NGƯỜI LÀNH, CŨNG CHẢ ÍCH GÌ !

 

HÀ  DỤNG LÃO, TRANG CHI GIÁO DA ?

何用老莊之教耶

THẾ THÌ, VỚI GIÁO-LÝ CỦA HỌ LÃO, HỌ TRANG, CÓ DÙNG CHI Ư ?

 

HỰU, ĐẠO DỤC HỔ LANG, THAI KIỆT, TRỤ, YỂU NHAN, NHIỄM, HỌA DI, TỀ, HÀ DANH TÔN  HỒ ?

又道育虎狼。胎桀紂。夭顏冉。禍夷齊。何名尊乎。

LẠI NỮA, ĐẠO SANH DỤC RA CỌP, SÓI, ĐẠO CHỬA-ĐẺ RA VUA KIỆT, VUA TRỤ, ĐẠO LÀM CHO THẦY NHAN, THẦY NHIỄM ĐỀU CHẾT YỂU, ĐẠO KIẾN CHO ÔNG DI, ÔNG TỀ ĐỀU BỊ HỌA, THẾ THÌ ĐẠO NÓ CÓ TÔN QÚY GÌ ?

 

HỰU NGÔN VẠN VẬT GIAI THỊ TỰ NHIÊN SANH HÓA, PHI NHÂN DUYÊN GIẢ.

又言萬物皆是自然生化。非因者。

HỌ LẠI NÓI : MUÔN VẬT ĐỀU TỰ-NHIÊN HÓA SANH, CHỨ KHÔNG CÓ NHÂN DUYÊN ẤY.

 

TẮC  NHỨT THIẾT VÔ NHÂN DUYÊN XỨ, TẤT ƯNG SANH HÓA, VỊ THẠCH ƯNG SANH THẢO, THẢO ƯNG SANH NHÂN, NHÂN SANH SÚC ĐẲNG.

則一切無因處。悉應生化謂石應生草。草應生人。人生畜

THẾ THÌ TẤT CẢ CHỖ KHÔNG NHÂN DUYÊN, ĐỀU NÊN SANH HÓA, NGHĨA LÀ :  ĐÁ NÊN SANH CỎ, CỎ NÊN ĐẺ NGƯỜI, NGƯỜI NÊN ĐẺ SÚC-VẬT, CÁC THỨ.

 

HỰU, ƯNG SANH VÔ TIỀN HẬU, KHỞI VÔ TẢO VÃN  : THẦN TIÊN BẤT TẠ ĐAN DƯỢC, THÁI BÌNH BẤT TẠ HIỀN LƯƠNG, NHÂN NGHĨA BẤT TẠ GIÁO TẬP.

又應生無前後。起無早。神仙不藉丹藥。太平不藉賢良。仁 義不藉教習。

LẠI NỮA, LẼ RA ĐẺ LUÔN  KHÔNG LUẬN TRƯỚC SAU, SANH MÃI CHẲNG PHÂN CHIỀU SỚM; VỚI QUẢ THẦN TIÊN CHẢ CẦN NHỜ THUỐC LINH-ĐAN; VỚI ĐỜI THÁI BÌNH NÀO PHẢI CẬY BẬC HIỀN LƯƠNG, NHÂN NGHĨA  CŨNG CHẲNG CẦN CHỈ DẠY.


LÃO TRANG CHÂU KHỔNG HÀ DỤNG  LẬP GIÁO VI QUỸ TẮC HỒ ?

老莊周孔。何用立教為軌則乎

CÁC NGÀI : LÃO-TỬ, TRANG-TỬ, CHÂU-CÔNG, KHỔNG-TỬ DÙNG ĐIỀU GÌ ĐỂ LẬP GIÁO-PHÁP  LÀM MẪU-MỰC ĐÓ Ư ?

 

HỰU NGÔN GIAI TÙNG NGUYÊN-KHÍ  NHI SANH THÀNH GIẢ.

又言皆從元氣而生成者。

LẠI BẢO RẰNG : “ĐỀU TỪ NƠI NGUYÊN-KHÍ  ĐỂ SANH THÀNH RA ĐÓ.”

 

TẮC HỐT SANH CHI THẦN, VỊ TẰNG TẬP LỰ, KHỞI ĐẮC ANH-HÀI TIỆN NĂNG ÁI Ố KIÊU TỨ DIÊN ?

則歘生之神。未曾習慮。豈得嬰孩便能愛惡驕恣焉

THẾ THÌ CÁI TINH-THẦN BỔNG NHIÊN MỚI SANH, CHƯA HỀ TẬP QUEN LO NGHĨ GÌ HẾT, NHƯ ĐỨA BÉ VỪA LỌT LÒNG, HÁ LIỀN ĐÃ BIẾT : THƯƠNG, GHÉT, MONG MUỐN, SUY TƯ VẬY SAO ?

 

NHƯỢC NGÔN HỐT HỮU, TỰ NHIÊN TIỆN NĂNG TÙY NIỆM ÁI Ố ĐẲNG GIẢ, TẮC NGŨ ĐỨC, LỤC NGHỆ, TẤT NĂNG TÙY NIỆM NHI GIẢI, HÀ ĐÃI NHÂN DUYÊN HỌC TẬP NHI THÀNH ?

若言欻有。自然便能隨念愛。惡等者。則五德六藝。悉能隨念而解。何待因學習而成

NẾU VIỆN LẼ RẰNG : “BỞI BỔNG DƯNG MÀ CÓ, NÊN RỒI TỰ NHIÊN BÈN HAY TÙY NIỆM MÀ CÓ ÁI Ố HỈ NỘ” ĐÓ; NẾU THẾ THÌ 5 ĐỨC, 6 NGHỀ CŨNG TỰ NHIÊN BÈN TÙY NIỆM MÀ HIỂU BIẾT LUÔN ĐI, CHỚ SAO LẠI CÒN ĐỢI CÓ NHÂN-DUYÊN HỌC-TẬP  RỒI MỚI THÀNH ?

 

HỰU NHƯỢC SANH THỊ BẨM KHÍ NHI HỐT HỮU, TỬ THỊ KHÍ TÁN NHI HỐT VÔ, TẮC THÙY VI QUỶ THẦN  HỒ ?

又若生是稟氣而歘有。死是氣散而欻無。則誰為鬼神乎

LẠI NỮA, VỚI SANH LÀ BỞI NGƯƠN-KHÍ HIỆP LẠI NÊN BỔNG DƯNG MÀ CÓ, VỚI TỬ LÀ BỞI NGƯƠN-KHÍ TÁN RA NÊN BỔNG DƯNG MÀ KHÔNG; THẾ THÌ CÁI GÌ CÒN ĐỂ LÀM QUỶ THẦN ?

 

THẢ THẾ HỮU GIÁM ĐẠT TIỀN SANH, TRUY ỨC VÃNG SỰ; TẮC TRI SANH TIỀN TƯƠNG TỤC, PHI BẨM KHÍ NHI HỐT HỮU.

且世有鑑達前生。追憶往事。則知生前相續。非稟氣而歘有

VẢ LẠI, GIỮA ĐỜI CÓ KẺ TỰ XEM THẤY KIẾP TRƯỚC, NGƯỜI THÌ TỰ NHỚ LẠI VIỆC ĐỜI XƯA; THÌ BIẾT RẰNG ĐỜI TRƯỚC TIẾP TỤC NHAU, CHỚ CHẲNG PHẢI LÀ BẨM THỤ NGƯƠN-KHÍ  BỔNG DƯNG CÓ THÂN-THỂ.

 

HỰU NGHIỆM QUỶ-THẦN LINH TRI BẤT ĐOẠN, TẮC TRI TỬ HẬU PHI KHÍ TÁN NHI HỐT VÔ.

又驗鬼神靈知不斷。則知死後非氣散而歘無。

LẠI XÉT : QUỶ-THẦN CÓ LINH-THIÊNG TỎ BIẾT CHẲNG DỨT; THẾ THÌ BIẾT RẰNG SAU KHI CHẾT RỒI, KHÔNG PHẢI KHÍ TÁN BỔNG NHIÊN KHÔNG HẲN.

 

CỐ TẾ TỰ CẦU ĐẢO, ĐIỂN TỊCH HỮU VĂN.

故祭祀求禱。典籍有文

NÊN CÚNG THỜ CẦU KHẤN, SÁCH VỞ CÓ BÀI.

 

HUỐNG TỬ NHI TÔ GIẢ, THUYẾT U ĐỒ SỰ; HOẶC TỬ HẬU CẢM ĐỘNG THÊ TỬ, THÙ BÁO ÂN OÁN KIM CỔ GIAI HỮU DA ?

況死而蘇者。幽途事。或死後感動妻子。讐報恩怨。今古皆 有耶

HUỐNG NỮA, CÓ KẺ CHẾT ĐI RỒI SỐNG TRỞ LẠI, THUẬT CHUYỆN CHỐN ÂM-PHỦ; NGƯỜI THÌ CHẾT RỒI HỒN NHẬP VỢ CON, ĐỂ ĐỀN ƠN TRẢ THÙ. NHỮNG VIỆC NHƯ TRÊN, XƯA NAY ĐỀU CÓ.

 

NGOẠI NẠN VIẾT, NHƯỢC NHÂN TỬ VI QUỶ, TẮC CỔ LẠI CHI QUỶ, ĐIỀN TẮC HẠNG LỘ, HỢP HỮU KIẾN GIẢ, NHƯ HÀ BẤT NHĨ ?

外難曰。若人死為鬼。則古來之鬼。填塞巷路。合有見者。如 何不爾。

KẺ NGOẠI VẤN NẠN : NẾU NGƯỜI CHẾT RỒI LÀM QUỶ, THẾ THÌ NHỮNG QUỶ TỪ XƯA TỚI NAY, NÓ Ở LẤP CHẬT HẾT CẢ ĐƯỜNG HẺM TRONG XÓM, ĐẾN LỘ LỚN NGOÀI ĐỒNG, LẼ RA CÓ KẺ THẤY, CỚ SAO KHÔNG THẤY NHƯ VẬY  ?

 

ĐÁP VIẾT, NHÂN TỬ LỤC ĐẠO, BẤT TẤT GIAI VI QUỶ, QUỶ PHỤC VI NHÂN ĐẲNG, KHỞI CỔ LAI TÍCH QUỶ THƯỜNG DA ?

答曰。人死六道。不必皆為鬼。鬼復為人等。豈古來積鬼常存

TRẢ LỜI RẰNG : “NGƯỜI TA SAU KHI CHẾT, TÙY MỖI HẠNH-NGHIỆP, PHẢI LUÂN HỒI TRONG LỤC-ĐẠO, HÀ TẤT ĐỀU CHỈ LÀM QUỶ; MÀ LOÀI QUỶ CŨNG TRỞ LẠI LÀM NGƯỜI HOẶC LÀM SÚC… CHỚ LẼ NÀO XƯA NAY CHỈ TỒN TẠI CÓ MỘT LOÀI QUỶ MÃI Ư ?”

 

THẢ THIÊN ĐỊA CHI KHÍ, BỔN VÔ TRI DÃ, NHÂN BẨM VÔ TRI CHI KHÍ, AN ĐẮC HỐT KHỞI NHI HỮU TRI HỒ ?

且天地之氣。本無知也。人稟無知之氣。安得歘起而有知乎

VẢ LẠI, KHÍ CỦA TRỜI ĐẤT CŨNG NHƯ KHÔNG KHÍ TRONG VŨ-TRỤ, CÁI KHÍ ẤY VỐN LÀ VẬT VÔ TRI VÔ GIÁC, NGƯỜI BẨM LẤY KHÍ VÔ TRI ẤY, SAO ĐẶNG BỔNG DƯNG NỔI LÊN TRI GIÁC Ư ?

 

THẢO MỘC DIỆC GIAI BẨM KHÍ, HÀ BẤT TRI HỒ ?

草木亦皆稟氣。何不知乎

CỎ CÂY CŨNG ĐỀU BẨM KHÍ ẤY, SAO NÓ CHẲNG CÓ TRI GIÁC Ư ?

 

HỰU NGÔN, BẦN PHÚ QUÝ TIỆN, HIỀN NGU THIỆN ÁC, CÁC HUNG HỌA PHƯỚC, GIAI DO THIÊN MẠNG GIẢ.

又言貧富貴賤。賢愚善惡。吉凶禍福。皆由天命者

HỌ LẠI NÓI : “NGHÈO, GIÀU, SANG, HÈN, HIỀN, NGU, THIỆN, ÁC, VIỆC LÀNH, DỮ, ĐIỀU HỌA, PHÚC ĐỀU DO Ở MẠNG TRỜI ẤY CẢ”.

 

TẮC THIÊN CHI PHÚ MẠNG, HỀ HỮU BẦN ĐA, PHÚ THIỂU, TIỆN ĐA, QUÝ THIỂU, NÃI CHÍ HỌA ĐA, PHƯỚC THIỂU ? CẨU ĐA THIỂU CHI PHÂN TẠI THIÊN, THIÊN HÀ BẤT BÌNH HỒ ?

則天之賦命。奚有貧多富少。賤多貴少。乃至禍多福少。苟多少之分在天。天何不平乎

THẾ THÌ, ĐỒNG LÀ CÁI MẠNG CỦA TRỜI CHO, MÀ SAO LẠI CÓ NHIỀU KẺ NGHÈO, ÍT KẺ GIÀU, ĐỨA HÈN PHẦN NHIỀU, NGƯỜI SANG PHẦN ÍT, NHẪN ĐẾN HỌA THÌ NHIỀU, PHÚC THÌ ÍT ? NẾU MÀ CÁI PHẦN NHIỀU ÍT ĐÓ LẠI LÀ TẠI TRỜI CHO, THÌ TRỜI SAO LẠI MÀ BẤT BÌNH THẾ Ư ?

 

HUỐNG HỮU VÔ HẠNH NHI QUÝ, THỦ HẠNH NHI TIỆN, VÔ ĐỨC NHI PHÚ, HỮU ĐỨC NHI BẦN, NGHỊCH CÁC NGHĨA-HUNG, NHÂN YỂU BẠO THỌ, NÃI CHÍ HỮU ĐẠO GIẢ TÁNG, VÔ ĐẠO GIẢ HƯNG.

況有無行而貴。守行而賤。無德而富。有德而貧。逆吉義凶。仁夭暴壽。乃至有道者喪。無道者興

PHƯƠNG CHI, KẺ KHÔNG HẠNH TỐT ĐƯỢC SANG, NGƯỜI GIỮ HẠNH KIỂM LẠI BỊ HÈN, KẺ ÁC-ĐỨC ĐƯỢC GIÀU, NGƯỜI HIỀN-ĐỨC BỊ NGHÈO, KẺ LÀM NGHỊCH ĐƯỢC LÀNH, NGƯỜI LÀM NGHĨA BỊ  DỮ,  KẺ LÀM BẤT-THIỆN ĐƯỢC SỐNG LÂU, NGƯỜI LÀM THIỆN BỊ CHẾT YỂU, NHẪN ĐẾN NGƯỜI CÓ ĐẠO-ĐỨC THÌ BỊ SUY TÀN, BỌN VÔ ĐẠO LẠI ĐƯỢC HƯNG THẠNH !

 

KÝ GIAI DO THIÊN, THIÊN NÃI HƯNG BẤT ĐẠO, NHI TÁNG HỮU ĐẠO, HÀ HỮU PHƯỚC THIỆN ÍCH KHIÊM CHI THƯỞNG, HỌA DÂM HẠI DOANH CHI PHẠT DIÊN ?

既皆由天。天乃興不道而喪有道。何有福善。益謙之賞。禍淫害盈之罰焉

ĐÃ MỖI SỰ GÌ CŨNG ĐỀU DO TRỜI, MÀ TRỜI  LẠI LÀM HƯNG VƯỢNG CHO KẺ VÔ ĐẠO; THẾ THÌ ĐÂU CÓ CÁI ĐIỀU THƯỞNG RẰNG : "PHÚC CHO KẺ LÀM THIỆN, KHIÊM TỐN THÌ ĐƯỢC NGƯỜI GIÚP ĐỠ". LẠI ĐÂU CÓ ĐIỀU PHẠT RẰNG : "LÀM TỘI LỖI THÌ MANG HỌA, GÂY NHIỀU ĐIỀU ÁC THÌ BỊ HẠI".

 

HỰU, KÝ HỌA LOẠN PHẢN NGHỊCH, GIAI DO THIÊN-MẠNG, TẮC THÁNH-NHÂN THIẾT GIÁO, TRÁCH NHÂN BẤT TRÁCH THIÊN, TỘI VẬT BẤT TỘI MẠNG, THỊ BẤT ĐÁNG DÃ.

又既禍亂反逆。皆由天命。則聖人設教。責人不責天。罪物不罪命。是不當也

LẠI NỮA, ĐÃ LÀ CÁC ĐIỀU : HỌA, LOẠN, PHẢN, NGHỊCH, ĐỀU DO THIÊN-MẠNG, THẾ THÌ ĐỨC THÁNH-NHÂN LẬP GIÁO PHÁP RA ĐÓ LÀ CHẲNG CHÁNH ĐÁNG GÌ CẢ ! VÌ CHỈ TRÁCH NGƯỜI, CHẲNG TRÁCH TRỜI, QUY TỘI CHO VẠN VẬT CHỚ KHÔNG QUY TỘI CHO MẠNG ! ?

 

NHIÊN TẮC, THI THỨ LOẠN-CHÁNH, THƯ TÁN VƯƠNG-ĐẠO, LỄ XƯNG AN THƯỢNG, NHẠC HIỆU DI PHONG, KHỞI THỊ PHỤNG THƯỢNG THIÊN CHI Ý, THUẬN TẠO-HÓA CHI TÂM HỒ ?

然則詩刺亂政。書讚王道。禮稱安上。樂號移風。豈是奉上天之意。順造化之心乎

VẬY THÌ, KINH-THI CHÊ CHÁNH-TRỊ RỐI RẮM, KINH THƯ KHEN ĐẠO CỦA ĐẾ-VƯƠNG, KINH-LỄ LÀM VUI LÒNG KẺ TRÊN, KINH-NHẠC THAY ĐỔI PHONG TỤC, ĐÂU PHẢI LÀ VÂNG THEO Ý CỦA THƯỢNG-THIÊN, THUẬN VỚI TÂM CỦA TẠO-HÓA Ư ?

 

THỊ TRI CHUYÊN THỬ GIÁO GIẢ, VỊ NĂNG NGUYÊN NHÂN !

是知專此教者。未能原人

THẾ BIẾT RẰNG : “CHỈ HỌC ĐẠO NHO, ĐẠO LÃO CŨNG CHƯA CÓ THỂ  XÉT THẤU NGUỒN GỐC NGUYÊN NHÂN CỦA LOÀI NGƯỜI ĐẶNG !”



THIÊN THỨ HAI

 

NHỊ XÍCH THIÊN THIỂN

二斥偏

QUỞ TRÁCH KẺ HỌC PHẬT MÀ CHẤP MÊ LỆCH-CẠN

 

PHẬT-GIÁO TỰ THIỂN CHÍ THÂM, LƯỢC HỮU NGŨ ĐẲNG : NHỨT NHÂN-THIÊN GIÁO, NHỊ TIỂU-THỪA GIÁO, TAM ĐẠI THỪA “PHÁP-TƯỚNG” GIÁO, ĐẠI THỪA “PHÁ-TƯỚNG” GIÁO (THƯỢNG TỨ TẠI THỬ THIÊN TRUNG). NGŨ NHỨT THỪA HIỂN-TÁNH GIÁO (TẠI ĐỆ TAM THIÊN TRUNG).

佛教自淺至深。略有五等。一人天教。二小乘教。三大乘法相教。四大乘破相教。(上四在此篇中)五一乘顯性教(在第三篇中) 

ĐỐI VỚI GIÁO LÝ TỪ CẠN ĐẾN SÂU CỦA PHẬT-GIÁO, SƠ LƯỢC CÓ 5 THỪA :

1. NHÂN-THIÊN GIÁO

2. TIỂU-THỪA GIÁO

3. ĐẠI THỪA “PHÁP-TƯỚNG” GIÁO

4. ĐẠI THỪA “PHÁ-TƯỚNG” GIÁO

( 4 GIÁO TRÊN Ở TRONG “THIÊN THỨ HAI” NẦY)

5. NHỨT THỪA HIỂN-TÁNH GIÁO

1 GIÁO TRÊN Ở TRONG “THIÊN THỨ BA” )


 

 NHẤT NHÂN-THIÊN GIÁO

一人天教。

GIÁO-PHÁP DẠY ĐẠO LÀM “NGƯỜI”, LÀM “TRỜI”

 

NHẤT PHẬT VỊ SƠ-TÂM-NHÂN, THẢ THUYẾT TAM THẾ NGHIỆP-BÁO, THIỆN-ÁC NHƠN QUẢ.

一佛為初心人。且三世業報。善惡因果

VÌ NHỮNG NGƯỜI MỚI-PHÁP-TÂM, PHẬT CHỈ NÓI CÁC PHƯƠNG-PHÁP : “NGHIỆP-BÁO 3 ĐỜI VÀ THIỆN-ÁC NHƠN-QUẢ”.

 

VỊ TẠO THƯỢNG PHẨM THẬP ÁC, TỬ ĐỌA ĐỊA-NGỤC, TRUNG PHẨM NGẠ-QUỶ, HẠ PHẨM SÚC-SANH.

謂造上品十惡。死墮地獄。中品餓鬼。下品畜生

NGHĨA LÀ LÀM 10 ĐIỀU ÁC : BẰNG BẬC “THƯỢNG” CHẾT ĐỌA ĐỊA-NGỤC; BẰNG BẬC “TRUNG” CHẾT ĐỌA NGẠ-QUỶ; BẰNG BẬC “HẠ” CHẾT ĐỌA SÚC-SANH.

 

CỐ PHẬT THẢ LOẠI THẾ NGŨ THƯỜNG CHI GIÁO.

故佛且類世五常之教。

CHO NÊN PHẬT NGÀI LẠI SO THEO GIÁO-KHOA NGŨ-THƯỜNG CUẢ PHÁP  THẾ GIAN. 

 

LINH TRÌ NGŨ-GIỚI.

令持五戒。

KHIẾN GIỮ 5 ĐIỀU RĂN.

 

ĐẮC MIỄN TAM-ĐỒ, SANH NHÂN ĐẠO TRUNG.

得免三途。生人道中

ĐẶNG KHỎI 3 ĐƯỜNG-DỮ, ĐƯỢC SANH LÀM NGƯỜI.

 

TU THƯỢNG PHẨM THẬP THIỆN, CẬP THÍ GIỚI ĐẲNG, SANH LỤC DỤC THIÊN; TU TỨ THIỀN BÁT ĐỊNH, SANH SẮC GIỚI VÔ SẮC GIỚI THIÊN.

脩上品十善。及施戒等。生六欲天。脩四禪八定。生色界無色

TU PHÁP “THẬP THIỆN” BẰNG BẬC THƯỢNG VÀ BỐ-THÍ TRÌ-GIỚI…ĐƯỢC SANH Ở 6 CÕI TRỜI DỤC; TU 4 THIỀN 8 ĐỊNH ĐƯỢC SANH Ở CÁC CÕI TRỜI SẮC, VÔ-SẮC.

 

CỐ DANH NHÂN-THIÊN GIÁO DÃ.

故名人天教也。

NÊN GỌI LÀ “NHÂN-THIÊN GIÁO” VẬY.

 

CỨ THỬ GIÁO TRUNG, NGHIỆP VI THÂN BỔN.

據此教中。業為身本

CĂN CỨ NGAY NƠI GIÁO-PHÁP ĐỂ DẠY NGƯỜI-TRỜI ĐÂY, THÌ THẤY “CÁI-NGHIỆP” NÓ LÀM GỐC CHO THÂN NGƯỜI, THÂN TRỜI.

 

KIM CẬT CHI VIẾT, KÝ DO TẠO NGHIỆP THỌ NGŨ ĐẠO THÂN, VỊ THẨM THÙY NHÂN TẠO NGHIỆP, THÙY NHÂN THỌ BÁO ?

今詰之曰。既由造業受五道身。未審誰人造業。誰人受報

NAY GẠN HỎI RẰNG : “ĐÃ DO TẠO NGHIỆP, RỒI CHỊU CÁI THÂN Ở 5 NGẢ ; CHƯA BIẾT NGƯỜI  NÀO TẠO NGHIỆP, AI CHỊU QUẢ BÁO ?”

 

NHƯỢC THỬ NHÃN NHĨ THỦ TÚC NĂNG TẠO NGHIỆP GIẢ, SƠ TỬ CHI NHÂN, NHÃN NHĨ THỦ TÚC UYỂN NHIÊN, HÀ BẤT KIẾN VĂN TẠO TÁC ?

若此眼耳手足能造業者。初死之人。眼耳手足宛然。何不見聞 造作

NẾU MẮT, TAI, TAY, CHÂN ẤY LÀ THỨ HAY TẠO ĐƯỢC NGHIỆP; THÌ NGƯỜI MỚI CHẾT, MẮT TAI TAY CHÂN VẪN CÒN SỜ SỜ ĐÓ,  SAO MẮT CHẲNG THẤY, TAI CHẲNG NGHE, TAY CHÂN CHẲNG TẠO TÁC GÌ CẢ ?

 

NHƯỢC NGÔN TÂM TÁC, HÀ GIẢ THỊ TÂM ?

若言心作。何者是心

NẾU BẢO RẰNG DO “TÂM” TẠO NGHIỆP, THÌ “TÂM” LÀ CÁI RA SAO ?

 

NHƯỢC NGÔN NHỤC-TÂM, NHỤC-TÂM HỮU CHẤT, HỆ Ư THÂN NỘI, NHƯ HÀ TỐC NHẬP NHÃN NHĨ, BIỆN NGOẠI THỊ PHI, THI PHI BẤT TRI, NHÂN HÀ THỦ XẢ ?

若言肉心。肉心有質。繫於身。如何速入眼耳。辨外是非。是非不知。因何取捨

NẾU NÓI “TÂM” LÀ TRÁI-TIM, THÌ TRÁI-TIM LÀ MỘT VẬT-THỂ CÓ HÌNH DẠNG, Ở TRONG “THÂN” THUỘC VỀ SẮC-PHÁP, THÌ  BẰNG CÁCH NÀO LẠI VÀO MẮT TAI MAU CHÓNG ĐỂ HIỂU RÀNH  SỰ VIỆC PHẢI, TRÁI BÊN NGOÀI ? SỰ PHẢI TRÁI THIỆN ÁC CHẲNG HIỂU, THÌ DO ĐÂU LẠI BIẾT ĐIỀU THIỆN NÊN LÀM, ĐIỀU ÁC NÊN BỎ ?

 

THẢ TÂM DỮ NHÃN NHĨ THỦ TÚC CÂU VI CHẤT NGẠI, KHỞI ĐẮC NỘI NGOẠI TƯƠNG THÔNG, VẬN ĐỘNG ỨNG TIẾP, ĐỒNG TẠO NGHIỆP DUYÊN ?

且心與眼耳手足為質礙。豈得外相通。運動應接。同造業

VẢ LẠI, QUẢ “TIM” VỚI MẮT, TAI, TAY, CHÂN ĐỀU LÀ VẬT-THỂ CỨNG CHẮC, NGĂN NGẠI VỚI NHAU, THÌ KHÔNG THỂ SUỐT THÔNG TRONG NGOÀI, ĐỂ CÙNG NHAU VẬN-ĐỘNG TẠO NGHIỆP Ư ?

 

NHƯỢC NGÔN, ĐÃN THỊ HỶ NỘ ÁI Ố, PHÁT ĐỘNG THÂN KHẨU, LINH TẠO NGHIỆP GIẢ, HỶ NỘ ĐẲNG TÌNH, SẠ KHỞI SẠ DIỆT, TỰ VÔ KỲ THỂ, TƯƠNG HÀ VI CHỦ, NHI TÁC NGHIỆP DA ?

若言。但是喜怒愛惡。發動身口。令造業者。喜怒等情。乍起乍滅。自無其體。將何為主。而作業耶

NẾU NÓI : “CÁC ĐIỀU MỪNG, GIẬN, YÊU, GHÉT NÓ PHÁT KHỞI NƠI THÂN VÀ MIỆNG, RỒI KHIẾN CHO THÂN-MIỆNG TẠO-NGHIỆP ĐÓ; THẾ THÌ CÁC THỨ TÌNH CẢM  VUI, BUỒN, THƯƠNG, GHÉT ẤY, LÚC CÓ KHI KHÔNG, NÊN CHẲNG CÓ THẬT THỂ GÌ CẢ, THÌ LẤY CHI LÀM CHỦ, ĐỂ TẠO TÁC RA NGHIỆP ĐƯỢC Ư ?

 

THIẾT NGÔN, BẤT ƯNG NHƯ THỬ BIỆT BIỆT SUY TẦM, ĐÔ THỊ NGÃ THÂN TÂM NĂNG TẠO NGHIỆP GIẢ. THỬ THÂN DĨ TỬ, THÌ THỌ KHỔ LẠC CHI BÁO ?

設言。不應如此別別推尋。都是我身心能造業者。此身已死。誰受苦樂之報

LẠI NÓI RẰNG : “ CHẲNG NÊN RIÊNG BIỆT GIỮA THÂN VÀ TÂM SUY TÌM NHƯ THẾ, MÀ LÀ THÂN HIỆP VỚI TÂM NÊN TẠO NGHIỆP ĐƯỢC” ĐÓ, VẬY XIN HỎI KHI THÂN ẤY ĐÃ CHẾT RỒI, THÌ AI CHỊU NGHIỆP BÁO KHỔ  HAY VUI ?

 

NHƯỢC NGÔN TỬ HẬU CÁNH HỮU THÂN GIẢ, KHỞI HỮU KIM NHỰT THÂN TÂM TẠO TỘI TU PHƯỚC, LINH THA HẬU THẾ THÂN TÂM THỌ KHỔ THỌ LẠC ?

若言。死後更有身者。豈有今日身心造罪脩福。令他後世身心 受苦受樂

NẾU BẢO RẰNG : “ SAU KHI CHẾT RỒI, LẠI CÒN CÁI THÂN KHÁC NỮA; CÓ LẼ NÀO THÂN-TÂM Ở ĐỜI NẦY TẠO TỘI HAY TU PHƯỚC, LẠI KHIẾN CHO CÁI THÂN-TÂM KHÁC Ở ĐỜI SAU PHẢI CHỊU KHỔ HAY VUI ?

 

CỨ THỬ, TẮC TU PHƯỚC GIẢ KHUẤT THẬM, TẠO NGHIỆP GIẢ HẠNH THÂM, NHƯ HÀ “THẦN-LÝ” NHƯ THỬ VÔ ĐẠO ?

據此。則脩福者屈甚。造業者幸甚。如何神理如此無道

CỨ THEO LẼ TRÊN ĐÓ, THÌ NGƯỜI TU PHƯỚC BỊ OAN ỨC LẮM ! KẺ TẠO ÁC NGHIỆP LẠI ĐƯỢC HƯỞNG PHƯỚC LÀNH !   VẬY THÌ “LẼ CHÍ CÔNG” SAO CÒN LÀM CHUYỆN OAN ỨC, LỘN XỘN VÔ-ĐẠO NHƯ THẾ Ư ?

 

CỐ TRI ĐÃN TẬP THỬ GIÁO GIẢ, TUY TÍN NGHIỆP DUYÊN, BẤT ĐẠT THÂN BỔN.

故知但習此教。雖信業不達身本

NÊN BIẾT RẰNG NGƯỜI CHỈ HỌC “ĐẠO LÀM NGƯỜI, LÀM TRỜI” ĐÂY,  TUY TÍN NGHIỆP-BÁO 3 ĐỜI, NHÂN DUYÊN THIỆN-ÁC NHƠN-QUẢ, CHỨ CHƯA BIẾT ĐƯỢC NGUỒN GỐC CỦA CÁI THÂN NẦY.



NHỊ TIỂU-THỪA GIÁO

二小乘教。

GIÁO-PHÁP DẠY ĐẠO LÀM “THANH-VĂN”, “DUYÊN-GIÁC”

 

THUYẾT HÌNH HÀI CHI SẮC, TƯ LỰ CHI TÂM, TÒNG VÔ THỈ LAI, NHÂN DUYÊN LỰC CỐ, NIỆM NIỆM SANH DIỆT, TƯƠNG TỤC VÔ CÙNG. NHƯ THỦY QUYÊN QUYÊN, NHƯ ĐĂNG DIỆM DIỆM.

 形骸之色。思慮之心。從無始來。因力故。念念生滅。相續無窮。如水涓涓。如燈焰焰。

NÓI RẰNG : “ CÁI SẮC-THÂN BẰNG HÌNH-HÀI, CÁI TÂM-THỂ BẰNG SUY-NGHĨ PHÂN-BIỆT, TỪ VÔ-THỈ ĐẾN NAY ĐỀU CÓ, LÀ DO NHÂN DUYÊN SANH, BỞI VÌ MỖI NIỆM SANH DIỆT, NỐI NHAU KHÔNG CÙNG. TỶ NHƯ NƯỚC CHẢY LIÊN TỤC  TẠO THÀNH “DÒNG NƯỚC”, ĐÈN CHÁY LIÊN TỤC TẠO THÀNH “NGỌN LỬA”.

 

THÂN TÂM GIẢ HIỆP, TỰ NHỨT TỰ THƯỜNG.

身心假合。似一似常

THÂN VÀ TÂM GIẢ HỢP LẠI CHẲNG RỜI NHAU , NÊN NÓI RẰNG : “HÌNH NHƯ LÀ MỘT”. THÂN VÀ TÂM GIẢ HỢP LẠI NIỆM NIỆM SANH DIỆT TƯƠNG TỤC NHAU MÃI, NÊN GỌI LÀ : “DƯỜNG NHƯ LÀ THƯỜNG”.

 

PHÀM PHU BẤT GIÁC, CHẤP CHI VI NGÃ, BỬU THỬ NGÃ CỐ, TỨC KHỞI THAM, SÂN, SI ĐẲNG TAM ĐỘC.

凡愚不覺。執之為我。寶此我故。即起貪嗔癡等三毒

KẺ KHÔNG TỈNH BIẾT, LẠI CHẤP THÂN-TÂM NẦY LÀ CỦA “TA”,  TÔN TRỌNG QUÝ BÁU,  LIỀN SANH RA “ PHIỀN –NÃO ” THAM, SÂN, SI  3 ĐỘC, LÀM CHƯỚNG NGẠI CHO “PHÁP-THÂN HUỆ-MẠNG” CỦA TA.

 

TAM ĐỘC KÍCH Ý, PHÁT ĐỘNG THÂN KHẨU, TẠO NHỨT  THIẾT NGHIỆP.

三毒擊意。發動身口。造一切業。

BA ĐỘC THAM, SÂN, SI LÀM NHÂN CHO Ý-NGHĨ, RỒI THÂN MIỆNG LÀM THEO, TẠO TÁC NÊN TẤT CẢ NGHIỆP.

 

NGHIỆP THÀNH NAN ĐÀO, CỐ THỤ NGŨ ĐẠO KHỔ LẠC ĐẲNG THÂN, TAM GIỚI THẮNG LIỆT ĐẲNG XỨ.

業成難逃。故受五道苦樂等身。三界勝劣等處

NGHIỆP ĐÃ THÀNH, KHÓ TRỐN QUẢ-BÁO, NÊN CHỊU KHỔ VUI TRONG 5 ĐƯỜNG :  “ TRỜI, NGƯỜI, SÚC SINH, NGẠ QUỶ, ĐỊA NGỤC.” TUY NGHIỆP “CHUNG” Ở CÙNG MỘT CÕI TRONG TAM GIỚI, MÀ TÙY THEO NGHIỆP “RIÊNG” CÓ HƠN HAY KÉM KHÁC NHAU.

 

Ư SỞ THỌ THÂN, HUỜN CHẤP VI NGÃ, HOÀN KHỞI THAM ĐẲNG, TẠO NGHIỆP THỤ BÁO.

於所受身。還執為我。還起貪等。造業受報

VỚI CÁI THÂN ĐÃ CHỊU QUẢ-BÁO, LẠI CHẤP LÀ “TA”, NÊN TRỞ LẠI KHỞI NIỆM THAM SÂN SI , RỒI TẠO NGHIỆP THỤ BÁO NỮA !

 

THÂN TẮC SANH LÃO BỊNH TỬ, TỬ NHI PHỤC SANH; GIỚI TẮC THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG, KHÔNG NHI PHỤC THÀNH.

身則生老病死。死而復生。界則成住壞空。空而復成

SẮC-THÂN THÌ CÓ : “SANH, GIÀ, BỊNH, CHẾT”, CHẾT RỒI LẠI SANH CỨ NỐI NHAU LIÊN TỤC KHÔNG DỨT; THẾ-GIỚI THÌ CÓ : “THÀNH, TRỤ, HOẠI,  KHÔNG”, KHÔNG RỒI TRỞ LẠI THÀNH CŨNG TƯƠNG TỤC KHÔNG DỪNG NHƯ SẮC-THÂN VẬY.

 

KIẾP KIẾP SANH SANH, LUÂN HỒI BẤT TUYỆT, VÔ THỈ VÔ CHUNG, NHƯ CẤP TỈNH LUÂN.

劫劫生生。輪迴不。無始無終。如汲井

KIẾP NẦY KIẾP KHÁC, ĐỜI NỌ ĐỜI KIA, LUÂN HỒI XOAY VẦN CHẲNG DỨT; KHÔNG CÓ KHỞI ĐẦU CŨNG KHÔNG CÓ KẾT THÚC, CŨNG NHƯ BÁNH XE TRÒN QUAY LÊN QUAY XUỐNG MÚC NƯỚC GIẾNG HẰNG NGÀY VẬY .

 

ĐÔ DO BẤT LIỂU THỬ THÂN, BỔN BẤT THỊ NGÃ;

都由不了此身。本不是我

ĐỀU BỞI CHẲNG RÕ THÂN NẦY VỐN CHẲNG PHẢI “TA”;

 

BẤT THỊ NGÃ GIẢ, VỊ THỬ THÂN BỔN NHÂN SẮC-TÂM HÒA HIỆP VI TƯỚNG.

不是我者。謂此身本因色心和合為

CHẲNG PHẢI TA ẤY, NGHĨA LÀ THÂN-NẦY GỐC BỞI “SẮC-PHÁP” VÀ “TÂM-PHÁP” HỢP LẠI NHAU ĐỂ LÀM CÁI TƯỚNG-GIẢ.

 

KIM SUY TẦM PHÂN TÍCH, SẮC HỮU ĐỊA THỦY HỎA PHONG CHI TỨ ĐẠI, TÂM HỮU THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC CHI TỨ UẨN; NHƯỢC GIAI THỊ NGÃ, TẮC THÀNH BÁT NGÃ.

今推尋分析。色有地水火風之四。心有受想行識之四。若皆是我。則成八 我

BÂY GIỜ ĐÂY , XÉT TÌM PHÂN TÍCH RA, THÌ “SẮC-UẨN” THUỘC VỀ THÂN DO 4 CHẤT ĐẠI LÀ: “ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA” CÙNG KHẮP HIỆP LẠI THÀNH THÂN ; CÒN “TÂM-UẨN” THÌ CÓ 4 TÁNH- NĂNG LÀ : “THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC” CÙNG KHẮP THUỘC VỀ TÂM; NẾU ĐỀU LÀ TA, THÌ THÀNH 8 CÁI “TA”. NẾU THẬT LÀ “TA”, THÌ NGƯỜI TU HÀNH SẼ THÀNH 8 VỊ PHẬT ?

 

HUỐNG ĐỊA ĐẠI TRUNG, PHỤC HỮU CHÚNG ĐA, VỊ TAM BÁCH LỤC THẬP ĐOẠN CỐT, NHỨT NHỨT CÁC BIỆT BÌ MAO CÂN NHỤC CAN TÂM, TỲ THẬN, CÁC BẤT TƯƠNG THỊ.

況地大中復有眾多。謂三百六十段骨。一一各別。皮毛筋肉肝心。脾腎。各不相是

HUỐNG NỮA ĐẤT  Ở TRONG THÂN, CÒN CÓ RẤT NHIỀU : NHƯ 3 TRĂM 60 KHÚC XƯƠNG MỖI MỖI ĐỀU KHÁC ;  DA, LÔNG, GÂN, THỊT, GAN, TIM, “TỲ” LÀ LÁ-LÁCH,THẬN, MỖI VẬT CŨNG KHÁC, CHẲNG PHẢI CÙNG NHAU.

 

CHƯ TÂM-SỞ  ĐẲNG DIỆC CÁC BẤT ĐỒNG, KIẾN BẤT THỊ VĂN, HỶ BẤT THỊ NỘ, TRIỂN CHUYỂN NÃI CHÍ BÁT VẠN TRẦN LAO.

諸心所等。亦各不同。見不是聞。喜不是怒。展轉乃至八萬塵 勞。

TẤT CẢ CÁC TÂM-SỞ, ĐỀU CHẲNG ĐỒNG : THẤY CHẲNG PHẢI NGHE, MỪNG CHẲNG PHẢI GIẬN, LẦN LƯỢT CHO ĐẾN 84 NGÀN TRẦN-LAO PHIỀN-NÃ0 CŨNG NHƯ VẬY.

 

KÝ HỮU THỬ CHÚNG ĐA CHI VẬT, BẤT TRI ĐỊNH THỦ HÀ GIẢ VI NGÃ ?

既有此眾多之物。不知定取何者為我

ĐÃ CÓ RẤT NHIỀU MÓN NHƯ VẬY, CHẲNG BIẾT PHẢI LẤY CÁI NÀO LÀM “TA” ?

 

NHƯỢC GIAI THỊ NGÃ, NGÃ TỨC BÁCH THIÊN, NHỨT THÂN CHI TRUNG ĐA CHỦ PHÂN LOẠI !

若皆是我。我即百千。一身之中。多主紛亂。

NẾU MỖI THỨ ĐỀU LÀ “TA”, TỨC NHIÊN NHIỀU ĐẾN HÀNG TRĂM, HÀNG NGÀN CÁI  “TA” LẬN, THÌ TRONG 1 CÁI THÂN LẠI CÓ NHIỀU “CHỦ-THỂ” LÀM “TA”, THÀNH RA RỐI LOẠN KHÔNG BIẾT CÁI “NGÔ NÀO MỚI THẬT SỰ LÀ “TA” ĐÂY ? !

 

LY THỬ CHI NGOẠI, PHỤC VÔ BIỆT PHÁP.

離此之外復無別法

LÌA RA NGOÀI 5 UẨN, THÌ KHÔNG CÒN CÓ PHÁP GÌ NỮA.

 

PHIÊN PHÚC SUY NGÃ, GIAI BẤT KHẢ ĐẮC, TIỆN NGỘ THỬ THÂN ĐÃN THỊ CHÚNG DUYÊN, TỢ HÒA HỢP TƯỚNG, NGUYÊN VÔ NGÃ NHÂN, VI THÙY THAM SÂN, VI THÙY SÁT ĐẠO, THÍ, GIỚI (TRI KHỔ ĐẾ DÃ); TOẠI BẤT TRỆ TÂM Ư TAM GIỚI HỮU LẬU THIỆN ÁC (ĐOẠN TẬP ĐẾ DÃ); ĐÃN TU VÔ NGÃ QUÁN TRÍ (ĐẠO-ĐẾ), DĨ ĐOẠN THAM ĐẲNG, CHỈ TỨC CHƯ NGHIỆP, CHỨNG ĐẮC NGÃ KHÔNG CHÂN NHƯ (DIỆT-ĐẾ).

翻覆推我。皆不可得。便悟此身但是眾。似和合相。元無我人。為誰貪嗔。為誰殺盜施戒。(知苦諦也)遂不滯心於三界有漏善惡。(斷集諦也)但修無我觀智。(道諦)以斷貪等。止息諸業。證 得我空真如(滅諦)。

SUY ĐI NGHĨ LẠI ĐỂ TÌM XÉT CÁI “TA” ĐỀU CHẲNG THỂ ĐƯỢC, LIỀN HIỂU CÁI THÂN ĐÂY CHỈ DO CÁC DUYÊN, NHƯ CÁI TƯỚNG 5 UẨN HÒA-HỢP, BỔN-NGUYÊN KHÔNG CÓ  “TA”,  KHÔNG CÓ “NGƯỜI”, THÌ AI THAM-SÂN ?, AI SÁT-ĐẠO ? AI BỐ-THÍ TRÌ-GIỚI CHO ĐẾN AI BIẾT KHỔ-ĐẾ ?; SUY CHO CÙNG TẬN THÌ “KHỔ-ĐẾ”  LÀ DO “TẬP-ĐẾ” LÀM NGUYÊN-NHÂN TẠO TÁC HOẶC “THIỆN” HAY “ÁC”  VỐN CŨNG KHÔNG CÓ THẬT-THỂ;  THÀNH THỬ “TÂM” KHÔNG CÒN  ƯA THÍCH  Ở NƠI  3 CÕI THIỆN ÁC HỮU-LẬU; CHỈ  MUỐN  TU CÁI TRÍ “ĐẠO-ĐẾ”  QUÁN XÉT CÁI “TA” VÔ-NGÃ, ĐỂ DỨT CÁC ĐIỀU : THAM, SÂN, SI, THÔI HẲN CÁC SỰ TẠO NGHIỆP, CHỨNG ĐẶNG “DIỆT-ĐẾ” LÝ CHÂN NHƯ KHÔNG NGÃ.

 

NÃI CHÍ ĐẮC A-LA-HÁN QỦA, KHÔI THÂN DIỆT TRÍ, PHƯƠNG ĐOẠN CHƯ KHỔ.

乃至得阿羅漢果。灰身滅智。方斷諸苦

CHO ĐẾN ĐẮC QỦA A-LA-HÁN, CÁI THÂN VÀ TRÍ ĐỀU DIỆT, VÀO CẢNH GIỚI VÔ-VI, ĐỂ HƯỞNG QỦA VUI TỊCH-DIỆT NIẾT-BÀN, MỚI ĐOẠN HẾT CÁC KHỔ TRONG 3 CÕI THIỆN ÁC HỮU-LẬU.

 

CỨ THỬ TÔNG TRUNG, DĨ SẮC TÂM NHỊ PHÁP, CẬP THAM SÂN SI VI CĂN-THÂN KHÍ-GIỚI CHI BỔN DÃ.

處此宗中。以色心二法。及貪嗔癡為根身器界之本也

NGƯỜI TU THEO PHÁP TỨ-ĐẾ : BIẾT KHỔ-ĐẾ THÌ PHẢI DỨT TẬP-ĐẾ, ƯA MẾN QỦA VUI “TỊCH-DIỆT NIẾT-BÀN” CỦA DIỆT-ĐẾ THÌ PHẢI HÀNH ĐẠO-ĐẾ, ĐỀU LẤY 2 PHÁP SẮC-TÂM VÀ THAM-SÂN-SI ĐỂ LÀM GỐC CHO CẢ TRONG CĂN-THÂN LẪN NGOÀI KHÍ-GIỚI.

 

QUÁ-KHỨ VỊ-LAI, CÁNH VÔ BIỆT PHÁP VI BỔN.

過去未來。更無別法為本

VỚI ĐỜI QUÁ-KHỨ ĐÃ QUA, ĐỜI VỊ-LAI CHƯA ĐẾN, CŨNG KHÔNG CÓ PHÁP GÌ KHÁC NGOÀI  2 PHÁP  SẮC-TÂM VÀ THAM-SÂN-SI ĐỂ LÀM CĂN BỔN.

 

KIM  CẬT CHI VIẾT, PHÙ KINH SANH LỤY THẾ, VI THÂN BỔN GIẢ, TỰ THỂ TU VÔ GIÁN ĐOẠN.

今詰之曰。夫經生累世為身本者。自體須無間斷

NAY GẠN HỎI RẰNG : “XÉT VỀ CÁI MÀ LÀM CĂN-BẢN CHO THÂN-TÂM TỪ ĐỜI NẦY TRẢI QUA NHIỀU KIẾP KHÁC, TẤT NHIÊN TỰ-THỂ CỦA NÓ CẦN PHẢI KHÔNG HỀ GIÁN-ĐOẠN MỚI ĐƯỢC CHỚ !”.

 

KIM NGŨ THỨC KHUYẾT DUYÊN BẤT KHỞI (CĂN CẢNH ĐẲNG VI DUYÊN), Ý-THỨC HỮU THỜI BẤT HÀNH. (MUỘN TUYỆT, THỤY MIÊN, DIỆT TẬN ĐỊNH, VÔ TƯỞNG ĐỊNH, VÔ TƯỞNG THIÊN)

今五識闕不起。(根境等為)意識有時不行(悶。睡眠滅盡定。無想定。無想天)

 NAY THIẾU “CĂN” VÀ “CẢNH” LÀM DUYÊN THÌ 5 THỨC TRƯỚC “MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI ,THÂN” CHẲNG KHỞI "CÁI BIẾT" LIÊN-TỤC  ĐƯỢC; CÓ KHI BẤT-TỈNH, NGỦ-MÊ, , NHẬP DIỆT-TẬN ĐỊNH,  NHẬP VÔ-TƯỞNG ĐỊNH,  LÀM TRỜI VÔ-TƯỞNG, "Ý-THỨC" BỊ GIÁN-ĐOẠN CHẲNG HIỆN HÀNH ĐƯỢC.

 

VÔ SẮC GIỚI THIÊN, VÔ THỬ TỨ ĐẠI, NHƯ HÀ TRÌ ĐẮC THỬ THÂN, THẾ THẾ BẤT TUYỆT ?

無色界天。無此四大。如何持得此身。世世不

CÁC VỊ TRỜI Ở CÕI VÔ-SẮC, CHẲNG CÓ CÁI THÂN BẰNG TỨ-ĐẠI “ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA”, THÌ PHẢI NHƯ THẾ NÀO ĐỂ  DUY TRÌ ĐẶNG CÁI THÂN CHO MỖI ĐỜI CHẲNG DỨT ĐOẠN HẲN Ư ?

 

THỊ TRI CHUYÊN THỬ GIÁO GIẢ, DIỆC VỊ NGUYÊN NHÂN.

是知專此教者。亦未原身

THẾ BIẾT RẰNG :  CHỈ HỌC TIỂU-THỪA GIÁO “THANH-VĂN”, “DUYÊN-GIÁC” CŨNG  CHƯA XÉT  TẬN  NGUỒN-GỐC NGUYÊN-NHÂN CÓ  ĐƯỢC CÁI THÂN CỦA LOÀI NGƯỜI !




 

TAM ĐẠI THỪA “PHÁP-TƯỚNG” GIÁO

三大乘法相教。

 

TU ĐỦ HAI PHẦN “TỰ LỢI, LỢI THA”, CHỨNG ĐẶNG HAI LẼ “NHÂN KHÔNG, PHÁP KHÔNG”, NÊN NÓI LÀ ĐẠI THỪA, LẠI NÓI RỘNG ĐỦ CÁC PHÁP-TƯỚNG, NÊN KÊU LÀ  “PHÁP-TƯỚNG” GIÁO.

 

THUYẾT NHỨT THIẾT HỮU TÌNH, VÔ THỈ DĨ LAI, PHÁP NHĨ HỮU BÁT CHỦNG THỨC.

一切有情。無始已來。法爾有八種識。

NÓI RẰNG : “TẤT CẢ CHÚNG-HỮU-TÌNH, TỪ XƯA TỚI NAY, 8 CHỦNG THỨC VẪN CÓ NHƯ VẬY”.

 

Ư TRUNG, ĐỆ BÁT A-LẠI-DA THỨC, THỊ KỲ CĂN BỔN, ĐỐN BIẾN CĂN-THÂN, KHÍ-GIỚI, CHỦNG-TỬ, CHUYỂN SANH THẤT THỨC, GIAI NĂNG BIẾN HIỆN TỰ PHẦN SỞ DUYÊN, ĐÔ VÔ THẬT PHÁP.

於中第八阿賴耶識。是其根本。頓變根。身。器界。種子。轉生七識。皆能變現自分所。都無實法。

TRONG  8 THỨC, THỨC A-LẠI-DA THỨ 8 LÀM CĂN BỔN, ĐỂ BIẾN HIỆN RA CĂN-THÂN, KHÍ-GIỚI VÀ CHỦNG-TỬ; LẠI CÒN CHUYỂN SANH RA 7 THỨC  TRƯỚC KIA  “MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI ,THÂN, Ý VÀ MẠT-NA ”; ĐỀU CÓ KHẢ NĂNG BIẾN HIỆN RA “TỰ-CHỨNG PHẦN” LÀ THỂ CỦA 8 THỨC, ĐỂ LÀM CẢNH SỞ-DUYÊN CHO “KIẾN PHẦN” LÀ PHẦN NHẬN BIẾT VÀ “TƯỚNG PHẦN” LÀ CẢNH BỊ NHẬN BIẾT. CHO NÊN, NGOÀI THỨC-THỂ RA, TẤT CẢ ĐỀU KHÔNG CÓ PHÁP GÌ THẬT CÓ NỮA.

 

NHƯ HÀ BIẾN DA ? VỊ NGÃ PHÁP PHÂN BIỆT, HUÂN TẬP LỰC CỐ, CHƯ THỨC SANH THỜI, BIẾN TỰA NGÃ PHÁP, ĐỆ LỤC THẤT THỨC VÔ MINH PHÚ CỐ, DUYÊN THỬ CHẤP VI THẬT NGÃ THẬT PHÁP. NHƯ HOẠN ( TRỌNG BỊNH TÂM HÔN KIẾN DỊ SẮC NHÂN VẬT DÃ )MỘNG( MỘNG TƯỞNG SỞ KIẾN KHẢ TRI ) GIẢ, HOẠN MỘNG LỰC CỐ. TÂM TỰA CHỦNG CHỦNG NGOẠI CẢNH TƯỚNG HIỆN. MỘNG THỜI CHẤP VI THẬT HỮU NGOẠI VẬT, NGỘ LAI PHƯƠNG TRI DUY MỘNG SỞ BIẾN.

如何變耶。謂我法分別。熏習力故。諸識生時。變似我法。第六七識。無明覆故。此執為實我實法。如患(重病心昏見異色人物也)夢(夢想所見可知)者。患夢力故。心似種種外境相現。夢時執為實有外物。寤來方知唯夢所變

THỨC BIẾN NHƯ THẾ NÀO ? – NÓI RẰNG : VÌ CHẤP NGÃ VÀ PHÁP, NÊN MỖI ĐỀU PHÂN BIỆT, THÀNH RA SỨC HUÂN-TẬP; KHI MÀ CÁC THỨC SANH, THÌ BIẾN HIỆN RA IN TUỒNG NHƯ CÓ NGÃ CÓ PHÁP, THẾ MÀ Ý-THỨC VÀ MẠT-NA-THỨC THỨ 6, 7 BỊ VÔ-MINH CHE TỐI, NHÂN ĐÓ MỚI CHẤP LÀM THẬT NGÃ VÀ PHÁP. TỶ NHƯ KẺ HOẠN (LÀ BỊ BỊNH NẶNG, TÂM HÔN MÊ, MẮT THẤY CẢNH SẮC NGƯỜI VẬT LẠ LÙNG) , NGƯỜI MỘNG (LÀ CHIÊM-BAO, NẰM NGỦ MƠ THẤY CẢNH NẦY, NGƯỜI NỌ) ĐÓ, LÀ VÌ BỞI SỨC BỊNH VÀ MƠ, NÊN TÂM NÓ THẤY HÌNH NHƯ CÓ MỖI MỖI CẢNH-TƯỚNG BÊN NGOÀI HIỆN RA, KHI NẰM NGỦ MƠ CHẤP LÀ THẬT CÓ VẬT BÊN NGOÀI, LÚC TỈNH THỨC MỚI BIẾT CHỈ LÀ CẢNH CHIÊM-BAO BIẾN HIỆN RA.

 

NGÃ THÂN DIỆC NHĨ, DUY THỨC SỞ BIẾN, MÊ CỐ CHẤP HỮU NGÃ CẬP NHƯ CẢNH, DO THỬ KHỞI HOẶC TẠO NGHIỆP SANH TỬ VÔ CÙNG ! (QUẢNG NHƯ TIỀN THUYẾT)

我身亦爾。唯識所變。迷故執有我及諸境。由此起惑造業。生死無窮(廣如前)

CÁI THÂN CỦA CHÚNG-TA CŨNG NHƯ VẬY, NÓ LÀ CÁI CẢNH “SỞ-BIẾN” CỦA DUY THỨC, THẾ MÀ BỊ MÊ NÊN CHẤP LÀM CÓ “TA” LÀ  CHỦ-THỂ NƠI “THÂN” CÙNG CÁC SỰ VẬT NƠI “CẢNH”, LÀ DO KHỞI MÊ-LẦM TẠO TÁC NGHIỆP CHƯỚNG, THÀNH THỬ BỊ LUÂN-HỒI TRONG SANH TỬ ĐẾN VÔ CÙNG VÔ TẬN ! (NHƯ TRÊN ĐÃ NÓI)

 

NGỘ GIẢI THỬ LÝ, PHƯƠNG TRI NGÃ THÂN, DUY-THỨC SỞ BIẾN, THỨC VI THÂN BỔN. (BẤT LIỂU CHI NGHĨA NHƯ HẬU SỞ PHÁ )

悟解此理。方知我身。唯識所變。識為身本。(不了之義如後所 )

NGƯỜI HỌC PHẬT TỎ HIỂU LÝ ẤY, MỚI BIẾT “THÂN-TA” LÀ SỞ-BIẾN CỦA DUY-THỨCTHÌ NGUỒN-GỐC CÓ THÂN  LÀ DO “THỨC-BIẾN”. (VỚI NGHĨA CHƯA HIỂU, SAU NẦY SẼ LẦN LƯỢT PHÁ TRỪ)



TỨ ĐẠI-THỪA PHÁ-TƯỚNG GIÁO

四大乘破相教。

GIÁO-PHÁP THỨ 4 CỦA ĐẠI -THỪA NẦY ĐỂ PHÁ CÁI CHẤP CỦA ĐẠI-THỪA PHÁP-TƯỚNG-GIÁO TRÊN KIA.

 

PHÁ TIỀN ĐẠI TIỂU THỪA PHÁP-TƯỚNG CHI CHẤP, MẬT HIỂN HẬU CHÂN TÁNH KHÔNG-TỊCH CHI LÝ.

破前大小乘法相之執。密顯後真性空寂之 理。

PHÁ CÁI CHẤP CỬA “TIỂU-THỪA GIÁO, ĐẠI-THỪA PHÁP-TƯỚNG GIÁO” TRƯỚC, ĐỂ  NGẦM RÕ CÁI LẼ KHÔNG-TỊCH CỦA CHÂN TÁNH SAU.

 

TƯƠNG DỤC PHÁ CHI, TIÊN CẬT CHI VIẾT, SỞ BIẾN CHI CẢNH KÝ VỌNG, NĂNG BIẾN CHI THỨC KHỞI CHÂN ?

將欲破之。先詰之曰。所變之境既妄。能變之識豈真

SẮP MUỐN PHÁ ĐI, TRƯỚC GẠN HỎI RẰNG : CÁI CẢNH “SỞ-BIẾN” ĐÃ LÀ “VỌNG” RỒI, THÌ CÁI THỨC “NĂNG-BIẾN” HÁ LẠI “CHÂN” Ư ?

 

NHƯỢC  NGÔN NHỨT HỮU NHỨT VÔ GIẢ, TẮC MỘNG TƯỞNG DỮ SỞ KIẾN VẬT ƯNG DỊ.

若言一有一無者。則夢想與所見物應異

NẾU NÓI MỘT ĐÀNG “CÓ”, MỘT ĐÀNG “KHÔNG” NHƯ LỜI DỤ ĐÓ, THÌ CÁI “TƯỞNG” TRONG “MỘNG”,  NÓ PHẢI KHÁC NHAU VỚI “VẬT” CHỖ THẤY.

 

DỊ TẮC MỘNG BẤT THỊ VẬT, VẬT BẤT THỊ MỘNG, NGỘ LAI MỘNG DIỆT, KỲ VẬT ƯNG TẠI.

異則夢不是物。物不是夢。寤來夢滅。其物應在。

ĐÃ KHÁC NHAU , THÌ “GIẤC-MỘNG” CHẲNG PHẢI LÀ “VẬT-THẤY”, VẬT-THẤY KHÔNG PHẢI LÀ GIẤC-MỘNG, LẼ RA “THỨC-DẬY” GIẤC-MỘNG DIỆT, THÌ “VẬT-THẤY” VẪN CÒN MỚI PHẢI CHỚ.

 

HỰU VẬT  NHƯỢC PHI MỘNG, ƯNG THỊ CHÂN VẬT.

又物若非夢。應是真物

LẠI, NẾU “VẬT-THẤY” CHẲNG PHẢI LÀ  GIẤC-MỘNG, THÌ PHẢI LÀ “VẬT-THẬT”.

 

MỘNG NHƯỢC PHI VẬT, DĨ HÀ VI TƯỚNG ?

夢若非物。以何為相

GIẤC-MỘNG NẾU MÀ CHẲNG PHẢI LÀ “VẬT-THẤY”, THÌ LẤY GÌ LÀM TƯỚNG ?

 

CỐ TRI MỘNG THỜI, TẮC MỘNG TƯỞNG MỘNG VẬT, TỰA NĂNG KIẾN SỞ KIẾN CHI THÙ, CỨ LÝ TẮC ĐỒNG NHỨT HƯ VỌNG, ĐÔ VÔ SỞ HỮU, CHƯ THỨC DIỆC NHĨ.

故知夢時。則夢想夢物。似能見所見之殊。據理則同一虗妄。都無所有。諸識亦爾。

NÊN BIẾT RẰNG : TRONG LÚC CHIÊM-BAO, THÌ CÁI “MỘNG-TƯỞNG”, CÁI “MỘNG-VẬT” TỢ HỒ CÓ KHÁC VỚI “ KHẢ-NĂNG” NHẬN THẤY VÀ “CẢNH” BỊ THẤY, CHỨ Y CỨ THEO LÝ THÌ CŨNG ĐỒNG LÀ MỘT “HƯ-VỌNG” MÀ THÔI, VÌ ĐỀU KHÔNG CHỖ CÓ, CÁC “THỨC” CŨNG VẬY.

 

DĨ GIAI GIẢ THÁC CHÚNG DUYÊN, VÔ TỰ TÁNH CỐ.

以皆假託眾。無自性故。

VÌ BỞI ĐỀU MƯỢN GÁ CÁC “DUYÊN” ĐỂ SANH, KHÔNG CÓ “TỰ-TÁNH”.

 

CỐ “TRUNG-QUÁN LUẬN” VÂN, VỊ TẰNG HỮU NHỨT PHÁP, BẤT TÙNG NHÂN DUYÊN SANH, THỊ CỐ NHỨT THIẾT PHÁP, VÔ BẤT THỊ KHÔNG GIẢ. HỰU VÂN, NHÂN DUYÊN SỞ SANH PHÁP, NGÃ THUYẾT TỨC THỊ “KHÔNG”.

“KHỞI-TÍN LUẬN” VÂN, NHỨT THIẾT CHƯ PHÁP, DUY Y VỌNG NIỆM NHI HỮU SAI BIỆT, NHƯỢC LY TÂM NIỆM, TỨC VÔ NHỨT THỂ CẢNH GIỚI CHI TƯỚNG.

KINH VÂN, PHÀM SỞ HỮU TƯỚNG, GIAI THỊ HƯ VỌNG, LY NHỨT THIẾT TƯỚNG, TỨC DANH CHƯ PHẬT. (NHƯ THỬ ĐẲNG VĂN BIẾN ĐẠI THỪA GIÁO)

故中觀論云。未曾有一法。不從因生。是故一切法。無不是空者。又云。因所生法。我即是空。

起信論云。一切諸法。唯依妄念而有差別。若離心念。即無一切境界之相。

經云。凡所有相。皆是虗妄。離一切相。即名諸佛(如此等文徧大乘 )

 

NÊN “TRUNG-QUÁN LUẬN” NÓI : CHƯA BAO GIỜ CÓ MỘT PHÁP GÌ CHẲNG DO NƠI NHÂN-DUYÊN ĐỂ PHÁT SANH, THẾ NÊN TẤT CẢ PHÁP KHÔNG PHÁP NÀO CHẲNG PHẢI LÀ “KHÔNG”LẠI NÓI : NHỮNG PHÁP MÀ DO NƠI NHÂN-DUYÊN ĐỂ SANH RA ĐÓ, TA NÓI NÓ TỨC LÀ “KHÔNG”.

“KHỞI-TÍN LUẬN” NÓI : “ TẤT CẢ CÁC PHÁP, CHỈ NƯƠNG NƠI VỌNG NIỆM MÀ CÓ SAI BIỆT, NẾU LÌA TÂM-NIỆM TỨC  LÀ KHÔNG CÓ TẤT CẢ HÌNH-TƯỚNG CẢNH GIỚI”.

NÊN “KINH KIM-CANG” NÓI RẰNG : “PHÀM HỄ  CÓ TƯỚNG ĐỀU LÀ HƯ-VỌNG CẢ; NẾU NHẬN THẤY CÁC TƯỚNG ĐỀU LÀ KHÔNG PHẢI TƯỚNG CHÍNH LÀ THẤY NHƯ-LAI”. (NHỮNG PHÁP NHƯ VẬY,  CÓ KHẮP TRONG CÁC KINH GIÁO ĐẠI-THỪA)

 

THỊ TRI TÂM CẢNH GIAI KHÔNG, PHƯƠNG THỊ ĐẠI THỪA THẬT LÝ.

是知心境皆空。方是大乘實理。

THẾ BIẾT : “TÂM” VÀ “CẢNH” ĐỀU KHÔNG, MỚI LÀ LÝ THẬT CỦA ĐẠI-THỪA.

 

NHƯỢC ƯỚC THỬ NGUYÊN THÂN, THÂN NGUYÊN THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ BỔN.

若約此原身。身元是空。空即是本。

NẾU THEO TÔNG NẦY ĐỂ XÉT-THẤU NGUYÊN NHÂN, THÌ “THÂN” VỐN LÀ “KHÔNG”, VẬY CÁI “KHÔNG” TỨC LÀ NGUỒN-GỐC CÓ LOÀI NGƯỜI.

 

KIM PHỤC KẾT THỬ GIÁO VIẾT, NHƯỢC TÂM CẢNH GIAI VÔ, TRI VÔ GIẢ THÙY ?

今復結此教曰。若心境皆無。知無者誰

ĐỐI VỚI TÔNG-GIÁO ĐÂY, BÂY GIỜ LẠI GẠN HỎI RẰNG : NẾU “TÂM” VÀ “CẢNH” ĐỀU KHÔNG, THÌ “BIẾT-KHÔNG” ẤY LÀ AI ?

 

HỰU, NHƯỢC ĐÔ VÔ THẬT PHÁP, Y HÀ HIỆN CHƯ HƯ VỌNG ?

又若都無實法。依何現諸虗妄

LẠI, NẾU TẤT CẢ ĐỀU KHÔNG CÓ “THIỆT-PHÁP”, THÌ NƯƠNG VÀO ĐÂU ĐỂ HIỆN RA CÁC ĐIỀU GIẢ DỐI ?

 

THẢ HIỆN KIẾN THẾ-GIAN HƯ VỌNG CHI VẬT, VỊ HỮU BẤT Y THẬT PHÁP NHI NĂNG KHỞI GIẢ, NHƯ  VÔ THẤP-TÁNH BẤT BIẾN CHI THỦY, HÀ HỮU HƯ VỌNG GIẢ-TƯỚNG CHI BA; NHƯỢC VÔ TỊNH TƯỚNG BẤT BIẾN CHI CẢNH, HÀ HỮU CHỦNG CHỦNG HƯ GIẢ CHI ẢNH.

且現見世間虗妄之物。未有不依實法而能起者。如無濕性不變之水。何有虗妄假相之波。若無淨相不變之鏡何有種種虗假之 影。

VẢ LẠI, HIỆN TIỀN ĐÂY, NGƯỜI TA ĐỀU THẤY BIẾT RẰNG : TRONG CÕI ĐỜI, NHỮNG VẬT GIẢ-DỐI, CHƯA CÓ MỘT VẬT NÀO CHẲNG NƯƠNG NƠI “THIỆT-PHÁP”, MÀ TỰ-NÓ  CÓ THỂ SANH KHỞI RA ĐƯỢC. CŨNG NHƯ NẾU KHÔNG CÓ “TÁNH-ƯỚT” CHẲNG BIẾN ĐỔI, THÌ LÀM GÌ CÓ “SỐNG” LÀ TƯỚNG-GIẢ DỐI HIỆN RA; LẠI NỮA, NẾU KHÔNG CÓ CẢNH  “TƯỚNG SÁNG-SẠCH” CHẲNG BIẾN ĐỔI CỦA “GƯƠNG”, THÌ LÀM GÌ CÓ “ẢNH HƯ-VỌNG” MỖI MỖI HIỆN RA.

 

HỰU, TIỀN THUYẾT MỘNG-TƯỞNG, MỘNG-CẢNH THÀNH NHƯ SỞ NGÔN. NHIÊN THỬ HƯ VỌNG CHI MỘNG, TẤT Y THỤY MIÊN CHI NHÂN; KIM KÝ TÂM CẢNH GIAI KHÔNG, VỊ-THẨM Y HÀ VỌNG HIỆN ?

又前夢想夢境。誠如所言。然此虗妄之夢。必因睡眠之人。今既心境皆空。未審依何妄現

LẠI, TRƯỚC KIA NÓI MỘNG-TƯỞNG, MỘNG-CẢNH LÀ LỜI THÀNH THẬT. TUY NHIÊN, CÁI GIẤC-MỘNG HƯ-VỌNG ẤY, TẤT NƯƠNG NƠI “NGƯỜI” NGỦ MÊ; NAY ĐÂY TÂM VÀ CẢNH ĐỀU KHÔNG, THÌ BIẾT NƯƠNG VÀO ĐÂU HIỆN RA CÓ HƯ-VỌNG ?

 

CỐ TRI THỬ GIÁO ĐÃN PHÁ CHẤP TÌNH, DIỆC VỊ MINH HIỂN CHÂN-LINH CHI TÁNH.

故知此教。但破執情。亦未明顯真靈之性

NÊN BIẾT GIÁO NẦY, MỚI CHỈ PHÁ CÁI TÌNH-CHẤP, NHƯ CŨNG CHƯA THẬT HIỂN MINH ĐƯỢC “CHÂN-TÁNH” RÕ RÀNG.

 

CỐ “PHÁP-CỔ KINH” VÂN, NHỨT THIẾT “KHÔNG” KINH, THỊ HỮU-DƯ THUYẾT (HỮU-DƯ GIẢ NGHĨA VỊ LIỂU DÃ.). “ĐẠI-PHẨM KINH” VÂN, KHÔNG THỊ ĐẠI-THỪA CHI SƠ MÔN.

故法鼓經云。一切空經。是有餘(有餘者義未了也)大品經云。空是大乘之初門。

 

NÊN KINH “PHÁP-CỔ” NÓI : TẤT CẢ KINH CỦA “KHÔNG-TÔNG”, ĐỀU LÀ CÁI THUYẾT “HỮU-DƯ” (HỮU-DƯ LÀ NGHĨA CHƯA ĐƯỢC RÕ RÀNG.). KINH “ĐẠI-PHẨM BÁT-NHÔ NÓI : “PHÁP-KHÔNG” LÀ CỬA BAN-SƠ CỦA “ĐẠI-THỪA”.

 

THƯỢNG CHI TỨ GIÁO, TRIỂN CHUYỂN TƯƠNG VỌNG, TIỀN THIỂN, HẬU THÂM, NHƯỢC THẢ TẬP CHI, TỰ TRI VỊ LIỂU, DANH CHI VI THIỂN; NHƯỢC CHẤP VI LIỂU, TỨC DANH VI THIÊN, CỐ TỰU TẬP-NHÂN, VÂN THIÊN THIỂN DÃ.

上之四教。展轉相望。前淺後深。若且習之。自知未了。名之為淺。若執為了。即名為偏。故就習人云偏淺也

BỐN GIÁO-PHÁP TRÊN, LẦN LƯỢT SO SÁNH, THÌ GIÁO-LÝ  TRƯỚC “CẠN”, GIÁO-LÝ  SAU “SÂU”; NẾU ĐÃ TU TẬP, PHẢI TỰ BIẾT LÀ CHƯA LIỂU-NGHĨA, NÊN GỌI LÀ CẠN; LẠI CHẤP CHO LÀ ĐÃ LIỂU-NGHĨA, TỨC LÀ CHƯA ĐƯỢC VIÊN “TRÒN”, VẪN  CÒN LÀ THIÊN “LỆCH”. THÀNH THỬ NGƯỜI HỌC, BỊ KHIỂN TRÁCH  LÀ “LỆCH-CẠN”.



THIÊN THỨ BA

 

TAM TRỰC-HIỂN CHÂN-NGUYÊN

(TẬP PHẬT LIỄU NGHĨA THẬT GIÁO GIẢ)

三直顯真

(習佛了義實教者)

NÓI RÕ NGAY CÁI CHÂN-NGUYÊN LÀ GỐC CỦA THÂN-NGƯỜI (NGƯỜI HỌC GIÁO-PHÁP “CHÂN THẬT LIỄU NGHĨA” CỦA PHẬT) .

 

 

NGŨ NHỨT THỪA HIỂN-TÁNH-GIÁO

五一乘顯性教。

GIÁO-PHÁP DẠY “NHỨT-THỪA” CỦA KINH HOA-NGHIÊM, LẤY “CHÂN-TÂM BỔN-GIÁC” LÀM NGUỒN-GỐC CHÂN-THẬT CÓ ĐƯỢC THÂN-NGƯỜI.

 

THUYẾT NHỨT THIẾT HỮU TÌNH, GIAI HỮU BỔN-GIÁC CHÂN-TÂM.

一切有情。皆有本覺真心。

GIÁO NẦY NÓI : TẤT CẢ CHÚNG-SANH ĐỀU CÓ “CHÂN-TÂM BỔN-GIÁC”.

 

VÔ THỈ DĨ LAI, THƯỜNG TRỤ THANH TỊNH, CHIÊU CHIÊU BẤT MUỘI, LIỂU LIỂU THƯỜNG TRI.

無始以來常住清淨。昭昭不昧。了了常知。

TỪ XƯA TỚI NAY,  THƯỜNG CÒN TRONG SẠCH, SÁNG SUỐT CHẲNG TỐI, RÕ RÀNG THƯỜNG BIẾT.

 

DIỆC DANH PHẬT-TÁNH, DIỆC DANH NHƯ-LAI-TẠNG.

亦名佛性。亦名如來藏

CŨNG  TÊN “PHẬT-TÁNH”, CŨNG TÊN “NHƯ-LAI-TẠNG”.

 

TÙNG VÔ THỈ TẾ, VỌNG TƯƠNG Ế CHI, BẤT TỰ GIÁC TRI, ĐÃN NHẬN PHÀM-CHẤT CỐ, ĐAM TRƯỚC KẾT NGHIỆP, THỌ SANH TỬ KHỔ.

從無始際。妄想翳之。不自覺知。但認凡質故。躭著結業。受 生死苦

TỪ KIẾP XƯA TỚI NAY, BỊ  CÁC VỌNG-TƯỞNG LẪN NHAU CHE LẤP, NÊN CHẲNG TỰ XÉT BIẾT, CHỈ NHẬN LẦM XÁC-PHÀM , ĐAM MÊ KẾT NGHIỆP, CHỊU KHỔ SANH TỬ !

 

ĐẠI-GIÁC MẪN CHI, THUYẾT NHỨT THIẾT GIAI KHÔNG, HỰU KHAI THỊ LINH-GIÁC CHÂN-TÂM THANH TỊNH, TOÀN ĐỒNG CHƯ PHẬT.

大覺愍之。一切皆空。又開示靈覺真心清淨。全同諸佛。

ĐẤNG ĐẠI-GIÁC LÀ PHẬT, NGÀI THƯƠNG XÓT  NÓI RẰNG : “ TẤT CẢ PHÁP  ĐỀU KHÔNG”. LẠI CHỈ RA CÁI CHÂN-TÂM SÁNG SUỐT THANH TỊNH, CÙNG VỚI “CHƯ PHẬT” NHƯ NHAU KHÔNG KHÁC.

 

CỐ HOA-NGHIÊM KINH VÂN, PHẬT TỬ ! VÔ NHỨT CHÚNG-SANH, NHI BẤT CỤ HỮU NHƯ-LAI TRÍ HUỆ, ĐÃN DĨ VỌNG TƯỞNG CHẤP TRƯỚC NHI BẤT CHỨNG ĐẮC.

故華嚴經云。佛子。無一眾生。而不具有如來智慧。但以妄想執著而不證得

TRONG “KINH HOA-NGHIÊM”, ĐỨC PHẬT BẢO CÁC VỊ BỒ-TÁT RẰNG : “PHẬT-TỬ !  TẤT CẢ CHÚNG-SANH ĐỀU CÓ ĐỦ “TRÍ-HUỆ” CỦA NHƯ-LAI, CHỈ VÌ “VỌNG-TƯỞNG CHẤP-TRƯỚC”, NÊN CHẲNG THỂ CHỨNG ĐƯỢC PHẬT-TÁNH  “CHÂN-TÂM BỔN-GIÁC”.

 

NHƯỢC LY VỌNG TƯỞNG, NHỨT THIẾT TRÍ, TỰ NHIÊN TRÍ, VÔ NGẠI TRÍ TỨC ĐẮC HIỆN TIỀN.

若離妄想。一切智。自然智。無礙智。即得現前

NẾU LÌA “VỌNG-TƯỞNG” RỒI, THÌ “NHỨT-THIẾT” TRÍ, “TỰ-NHIÊN” TRÍ, “VÔ-NGẠI” TRÍ, LIỀN  ĐƯỢC “HIỆN-TIỀN”.

 

TIỆN CỬ NHỨT TRẦN HÀM ĐẠI THIÊN KINH QUYỂN CHI DỤ. TRẦN HUỐNG CHÚNG-SANH, KINH HUỐNG PHẬT-TRÍ.

便舉一塵含大千經卷之。塵況眾生。經況佛智。

NHÂN TIỆN ĐƯA RA LỜI DỤ : “ MỘT HẠT BỤI CỰC VI BAO HÀM CUỐN KINH BẰNG CÕI ĐẠI-THIÊN THẾ-GIỚI”. "BỤI" DỤ CHO CHÚNG-SANH; "KINH" DỤ CHO PHẬT-TRÍ.

 

THỨ HẬU HỰU VÂN, NHĨ THỜI NHƯ-LAI, PHỔ QUÁN PHÁP-GIỚI NHỨT THIẾT CHÚNG-SANH, NHI TÁC THỊ NGÔN, KỲ NGÃ KỲ TAI ! THỬ CHƯ CHÚNG-SANH VÂN HÀ CỤ HỮU NHƯ-LAI TRÍ-HUỆ MÊ HOẶC BẤT KIẾN ?

NGÃ ĐƯƠNG GIÁO DĨ THÁNH-ĐẠO, LINH KỲ VĨNH LY VỌNG TƯỞNG, TƯ Ư THÂN TRUNG ĐẮC KIẾN NHƯ-LAI, QUẢNG ĐẠI TRÍ-HUỆ, DỮ PHẬT VÔ VỊ.

次後又云。爾時如來普觀法界一切眾生。而作是言。奇我奇哉。此諸眾生。云何具有如來智慧。迷惑不見。我當教以聖道。令其永離妄想。自於身中得見如來。廣大智慧。與佛無 異。

KINH HOA-NGHIÊM LẠI NÓI : BẤY GIỜ ĐỨC NHƯ-LAI, XEM KHẮP PHÁP-GIỚI TẤT CẢ CHÚNG-SANH, MÀ THỐT LỜI RẰNG “TỰ-NGÃ LẠ THAY” ! CÁC CHÚNG-SANH ĐÂY, ĐÃ SẴN ĐỦ CÓ “TRÍ-HUỆ-PHẬT”, MÀ TẠI SAO BỊ “MÊ-LẦM” CHẲNG TỰ THẤY ĐƯỢC ?

TA SẼ DẠY “THÁNH-ĐẠO”CHO CHÚNG, KIẾN LÌA HẲN “VỌNG-TƯỞNG” , ĐỂ TỰ THẤY NGAY TRONG CÁI “THÂN” NẦY, CÓ SẴN TRÍ-HUỆ RỘNG LỚN LÀ “PHẬT-TÁNH”, CÙNG PHẬT KHÔNG KHÁC.

 

BÌNH VIẾT, NGÃ ĐẲNG ĐA KIẾP VỊ NGỘ CHÂN-TÔNG, BẤT GIẢI PHẢN TỰ NGUYÊN THÂN.

評曰。我等多劫。未遇真宗。不解反自原身

LỜI BÀN : CHÚNG TA ĐÃ TRẢI QUA NHIỀU KIẾP, CHƯA GẶP ĐƯỢC CHÂN-TÔNG, NÊN CHẲNG BIẾT TRỞ LẠI TỰ XÉT THẤU NGUỒN-GỐC CỦA THÂN NẦY.

 

ĐÃN CHẤP HƯ-VỌNG CHI TƯỚNG, CAM NHẬN PHÀM HẠ, HOẶC SÚC, HOẶC NHÂN.

但執虗妄之相甘認凡下。或畜或人

CHỈ CHẤP CÁI “THÂN” TƯỚNG GIẢ-DỐI, CAM PHẬN LÀM PHÀM-PHU THẤP-HÈN, HOẶC LÀM SÚC-SANH, HOẶC LÀM CON NGƯỜI!

 

KIM ƯỚC CHÍ-GIÁO NGUYÊN CHI, PHƯƠNG GIÁC BỔN LAI THỊ PHẬT.

今約至教原之。方覺本來是佛

NAY SO SÁNH CÁC GIÁO-LÝ ĐẾN NƠI ĐẾN CHỐN, ĐỂ XÉT CHO THẤU NGUỒN-GỐC, THÌ MỚI BIẾT XƯA NAY TA “VỐN” LÀ PHẬT.

 

CỐ TU HẠNH Y PHẬT HẠNH, TÂM KHẾ PHẬT TÂM, PHẢN BỔN HOÀN NGUYÊN, ĐOẠN TRỪ PHÀM TẬP.

故須行依佛行。心契佛心。反本還原。斷除凡習

NÊN CẦN PHẢI : “HẠNH” THÌ NƯƠNG NƠI HẠNH CỦA PHẬT, “TÂM” THÌ HỢP VỚI TÂM CỦA PHẬT, TRỞ VỀ NGUỒN-GỐC, DỨT BỎ THÓI QUEN CỦA  “PHÀM-PHU THẤP-HÈN”.

 

TỔN CHI HỰU TỔN, DĨ CHÍ VÔ VI.

損之又損。以至無為

BỚT “THÓI QUEN”, LẠI BỚT  “TẬP-KHÍ”  CỦA PHÀM-PHU THẤP-HÈN, BỚT MÃI CHO ĐẾN “KHÔNG-LÀM”, LIỀN ĐƯỢC  “TÁNH CHÂN-NHƯ” HIỆN TIỀN.

 

TỰ NHIÊN ỨNG DỤNG HẰNG SA, DANH CHI VIẾT PHẬT.

自然應用恒沙。名之曰佛

“CHÂN-TÁNH”  LÚC “MÊ-LẦM”, THÌ THÀNH RA HẰNG-SA “TRẦN-LAO”, ĐẾN LÚC “GIÁC-NGỘ”  RỒI, TỰ NHIÊN CÓ ĐƯỢC  HẰNG-SA “DIỆU-DỤNG”, GỌI TÊN LÀ “PHẬT” (SÁNG BIẾT).

 

ĐƯƠNG TRI MÊ NGỘ, ĐỒNG NHỨT CHÂN-TÂM.

當知迷悟。同一真心。

PHẢI BIẾT : LÚC MÊ, LÚC NGỘ, CÓ CÙNG 1 CHÂN-TÂM.

 

ĐẠI TAI DIỆU MÔN, NGUYÊN-NHÂN CHÍ THỬ.

大哉妙門。原人至

RỘNG LỚN THAY, PHÁP MÔN “VI-DIỆU VIÊN-ĐỐN”, XÉT CÙNG TỘT  NGUYÊN-NHÂN NGUỒN-GỐC CỦA LOÀI NGƯỜI LÀ “CHÂN-TÂM”.



 

THIÊN THỨ TƯ

 

HỘI THÔNG BỔN MẠT

會通本末。

GOM LẠI SUỐT NGỌN VÀ GỐC

 

Nghĩa là gom cả các văn; bài-xích trước kia, đều là chánh-nghĩa, vì được đồng đem về nơi nguồn chân-tánh, kêu bằng “Cọng nhập Tỳ L ô tánh-Hải".

Kể đem: 1.- Đạo-Nho, Đạo-Tiên, 2.- Nhân-Thiên giáo, 3.- Tiểu- Thừa giáo, 4.- Pháp-tướng giáo, 5.- Phá-tướng giáo. 6.- Hiển- tánh giáo, cứ theo thứ lớp so nhau, thì, trước trước là ngọn, sau sau là gốc. Nghĩa là, 1 làm ngọn cho 2, 2 làm gốc cho 1; 2 làm ngọn cho 3, 3 làm gốc cho 2; 3 làm ngọn cho 4, 4 làm gốc cho 3, 4 làm ngọn cho 5, 5 làm gốc cho 4, 5 làm ngọn cho 6, 6 làm gốc cho 5. Còn như lấy “Hiển-tánh giáo” so với trước, thì, các giáo trước đều là ngọn, chỉ một “Hiển-tánh giáo" đặc biệt là gốc.

Đối với trước, bởi họ chấp ngọn, quên gốc, nên phải trách phá đị; nay dùng gốc để gồm ngọn, thì, sở-thuyết trước kia, đều là chính ngọn của gốc, đã ngọn là ngọn tức gốc, thì chăng chẳng là liểu-nghĩa. Lại nữa, do Hoa-nghiêm tông, dù 2 môn: một trọn thâu, hai trọn chứa; với trước, so về “Biệt giáo nhứt thừa", nên chọn lọc là chọn lọc toàn diện, nay so về “Viên-giáo” nên bao hàm là bao hàm toàn diện.


CHÂN-TÁNH TUY VI THÂN BỔN, SANH KHỞI CÁI HỮU NHÂN DO, BẤT KHẢ VÔ ĐOAN, HỐT THÀNH THÂN-TƯỚNG.

真性雖為身本。生起葢有因由。不可無端忽成身相

CHÂN-TÁNH MẶC DÙ LÀM GỐC CHO THÂN-TƯỚNG,  NHƯNG VỀ SỰ SANH KHỞI RA THÂN-TƯỚNG ẮT CÓ NGUYÊN-DO, CHỨ CHẲNG PHẢI KHÔNG MANH MỐI GÌ HẾT, ĐỘT NHIÊN THÀNH RA THÂN-TƯỚNG ĐÂU  ?


Hỏi : 4 giáo trước, chưa nói rõ chân-tánh, nên phi liểu-nghĩa; nay giáo này đã nói rõ ngay, thế đã là tận lý rồi. Cần gì lại còn phải gòm nhóm sở thuyết trước ư ?

Đáp: Chân-tánh làm gốc, vẫn là tận lý; song, lúc mà tánh dấy ra làm tướng, ắt phải dủ chúng-duyên, thì Tám-Thức, hoặc nghiệp.... trước, đều là các trợ-duyên cả. “Chứ chẳng phải không chi hết” sắp xuống, là chỉ tỏ rõ trở lại. Tỷ như: nước đương yên lặng lóng dứng, phải nương cái duyên gió xao động, mới thành cái tướng sóng dợn, chớ chẳng thể không gió, mà bổng nổi ba đào ?


ĐÃN DUYÊN TIỀN TÔNG VỊ LIỂU, SỞ DĨ TIẾT TIẾT XÍCH CHI.

前宗未了。所以節節斥之。

CHỈ  RA  CÁC TÔNG TRƯỚC CHƯA RÕ, VÌ CHƯA RÕ NGUYÊN-DO CÓ ĐƯỢC THÂN NGƯỜI, NÊN BỊ BÀI XÍCH.


Hỏi: Chân-tánh thành thân, đã mượn 8 thức các duyên, thế thì, lẽ ra, trước kia nói “Thức, hoặc nghiệp làm gốc" cũng chưa phải là trái lý, thì do sao lại bài xích ?

Đáp: Cái sở-thuyết của tiền tông, chưa nói rõ chân-tánh, chỉ dùng thức, hoặc nghiệp làm gốc cho thân. Cũng như chỉ chấp lấy cái duyên-gió cho là sóng dợn, há tận lý ư ?


KIM TƯƠNG BỔN-MẠT HỘI THÔNG, NÃI CHÍ NHO-ĐẠO DIỆC THỊ.

今將本末會通。乃至儒道亦

NAY ĐÂY ĐEM GỐC NGỌN GỒM CHUNG , CHO ĐẾN 2 ĐẠO : ĐẠO-NHO, ĐẠO-TIÊN CŨNG NHƯ VẬY.


Bắc dầu duy chỉ về sở-thuyết của “Tánh-giáo” thứ 5 ; từ đoạn sau nhẫn đi, mỗi tiết, mỗi lớp mới đồng với “Các giáo" đều như các lời chú sẽ nói.

Ban sơ chung rõ ra chỗ gốc, chính là nêu lên “Tánh sanh khởi” để làm “tông chỉ” cực điểm; sau nầy, nương nơi gốc để gom ngọn, tức là theo thứ lớp để gom các giáo trước. Cả thẩy là trọn dùng theo ý của Khởi-Tín luận, để phân phán các giáo : nào là lý cạn, nào là lý sâu, rõ ràng như xem chỉ trong bàn tay:

1.- Bắc đầu nói “Nhứt tâm", chính như kinh Hoa-nghiêm nói “nhứt pháp-giới tâm". Nên luận khởi-tin lập nghĩa phân rằng : “Ma-Ha-Diễn” đó, nói chung có hai thứ : một là “Pháp", hai là “Nghĩa”. Nói “Pháp” ấy, bảo rằng “Tâm” của chúng-sanh, Tâm ấy nó gồm thâu tất cả pháp thế-gian và pháp xuất thế-gian.

2.- Kế nương nơi “Nhứt-tâm” ấy, phân ra hai môn: Chân và Sanh, rằng y nơi “một tâm pháp", có hai thứ cữa : một “tâm chân-như- môn”, hai “tâm-sanh diệt môn"  ...

3.- Y nơi “Sanh diệt môn”, mở ra hai nghĩa: giác và bất giác. Văn luận ấy nói rằng : “Sanh diệt môn” ấy, vì y nơi “Như-Lai-Tạng” có cái “tâm sanh diệt” ...  Nhẫn đến nói: thức ấy có hai nghĩa: một là nghĩa giác, hai là nghĩa bất giác.

4.- Y nơi nghĩa Bất giác; sanh ra ba tế-tướng, Văn luận ấy nói rằng: Vì y nơi Bất-giác (mê) có ba thứ tướng, cùng với Bất giác kia, chẳng rời bỏ nhau. Thế nào là ba ? Một nghiệp-tướng, hai Năng kiến tướng, ba cảnh giới tướng.

5.- Nương nơi ba Tế-tướng, sanh ra Lục Thô tướng. Văn Luận ấy nói : “Vì bởi có cái duyên cảnh-giới, nên lại sanh ra sáu thô tướng: một Trí-tướng (cu-sanh pháp-chấp); Hai Tương-tục-tướng (phân biệt pháp chấp); Ba Chấp-thủ-tướng (cu-sanh ngã-chấp); Bốn kế Danh-tự-tướng (phân biệt ngã chấp); Năm Khởi-nghiệp- tướng: Sáu nghiệp hệ khổ tướng.

Nay “Hiển-tánh giáo” dây, xét nói đến “Nhứt tâm” ; nếu y theo “Hiền-thủ tông” mở ra “Đốn-giáo", thì nó tương đương với “Chân-như môn”. Ở đây, Luận này chẳng mở ra, thì chính dùng “Chân như môn” hợp ở trong “Hiền-tánh giáo". Nghĩa của “Phá- Tướng giáo” nó ngang nhau với nghĩa “giác bất giác” của “Sanh diệt môn”. Nghĩa của “pháp-tướng giáo” đồng chạn với nghĩa của “tam-tế-tướng”. Nghĩa của “Tiểu-thừa giáo” nó tùy nhau với nghĩa của “4 thô tướng” sau. Nghĩa của “Nhân-thiên giáo” thì bằng bận với nghĩa của “khởi nghiệp thụ báo” - tức là nghiệp hệ khổ tướng. -Sở-thuyết của Đạo-Nho, Đạo-Tiên, hãy còn chẳng biết được trong nghĩa chịu-báo về 6 thú sai biệt, nên đây chỉ dùng nghĩa thâu vào với nghĩa của “nhân-thú” trong “nhân thiên thừa” ngõ hầu để cùng tận được nghĩa nguyên-nhân (xét thấu gốc của nhân thân) của Nội giáo, Ngoại giáo vậy thời.

 

VỊ SƠ DUY NHẤT CHÂN LINH TÁNH, BẤT SINH, BẤT DIỆT, BẤT TĂNG BẤT GIẢM, BẤT BIẾN BẤT DỊCH.

謂初唯一真靈性。不生不滅。不增不減。不變不易。

BẢO RẰNG : “BẮT ĐẦU DUY CHỈ VỀ TÁNH-GIÁO THỨ 5 LÀ CÁI, “NHỨT CHÂN-LINH TÁNH”, CHẲNG SANH CHẲNG DIỆT, KHÔNG THÊM KHÔNG BỚT, CHẢ ĐỔI CHẢ DỜI”.


Bảo rằng : “Bắt đầu duy chỉ về tánh-giáo thứ 5”  là cái “nhứt chân-linh tánh”: chẳng sanh chẳng diệt, không thêm không bớt, chả đổi chả dời.

Nghĩa đây chính là đồng nghĩa với “tâm chân như môn” của Khởi-Tín luận.


CHÚNG SINH VÔ THUỶ MÊ THỤY, BẤT TỰ GIÁC TRI, DO ẨN PHÚ CỐ, DANH NHƯ-LAI-TẠNG. Y NHƯ-LAI-TẠNG CỐ, HỮU SINH DIỆT TÂM TƯỚNG.

眾生無始迷睡。不自覺知。由隱覆故。名如來藏。依如來藏故。有生滅心

CHÚNG-SANH ĐÃ NHƯ NGỦ MÊ TỪ VÔ-THUỶ, NÊN CHẲNG TỰ SÁNG BIẾT; VÌ “CHÂN-LINH TÁNH” BỊ CHE PHỦ, NÊN TÊN LÀ “NHƯ-LAI TẠNG”, NÊN CÓ TÂM-TƯỚNG SANH DIỆT.

 

Từ dây mới là giáo pháp thứ tư cũng đồng phá chấp các tướng sanh diệt từ đây nhẫn trước.

Nghĩa đây chính đồng với nghĩa “tâm sanh diệt môn” của Khởi-Tin luận – “Như-Lai Tạng” thuộc về “hiển-tánh giáo”. – “Sanh diệt tâm” nó thuộc về "phá tướng giáo” sau kia, vì nói với nhau để phát khởi. – Lời chú rằng: Từ dây mới là Y nơi gốc để gom ngọn, phân làm 5 phần: phần ban sơ gom “phá tướng giáo”. Song, nghĩa của “phá tướng giáo” nó thông đồng cả hai thế:

1.- nếu dùng “pháp không” để làm cửa đầu-tiên của đại-thừa, thì tức là hợp vào “thỉ giáo”.

2.- hoặc dùng về “phá tướng rõ tánh” thì tức là đồng với “chung giáo”. Ngài Quê-Phong lấy 3 giáo: chung, đốn và Viên hợp làm Hiển tánh giáo, là để cùng Pháp-tướng giáo, nơi nơi danh tích phá chấp nhau, nên mở “phá tưởng giáo”, mà dùng nghĩa “chung giáo” của Hiền-Thủ tông đương đó, thành thử chỗ nói rõ ra của thiên thứ tư dây, trọn đồng “chung giáo”.


SỞ VỊ BẤT SINH BẤT DIỆT CHÂN-TÂM, DỮ SINH DIỆT VỌNG TƯỞNG HÒA HỢP, PHI NHỨT PHI DỊ, DANH VI A-LẠI-DA THỨC, THỬ THỨC HỮU GIÁC BẤT GIÁC NHỊ NGHĨA.

所謂不生不滅真心。與生滅妄想和合。非一非異。名為阿賴耶識。此識有覺不覺二

CHÍNH RẰNG : CÁI “CHÂN-TÂM BẤT SANH BẤT DIỆT”, NÓ  CÙNG LẪN HỢP NHAU VỚI CÁI “VỌNG TƯỞNG SANH DIỆT” BẰNG CÁNH CHẲNG ĐỒNG CHẲNG KHÁC TÊN LÀ “A-LẠI-DA THỨC”; THỨC ĐÂY CÓ 2 NGHĨA : GIÁC VÀ BẤT GIÁC.

 

Từ đây sắp xuống, mới là trong giáo pháp tướng thứ 3 cũng đồng cái thuyết đây.

Đây là gom “phá tướng giáo” - Ngài Long Thọ chép luận nói: cái mà “bất sanh diệt” đó, chính là cái “chân tâm"; còn cái mà “sanh diệt” đó, tức là cái “căn bổn vô minh”. Nghĩa là, trong lúc mà chúng-sanh mê muội, thì cái “căn bản vô mình” nó hoạt-động sự tác dụng của nó lên, tên là “Độc lực nghiệp tướng”; nó là phần “năng huân” cho “tâm-chân-như”, tâm-chân-như là phần “bị huân”, rồi khởi lên cái “tùy nhiễm tác dụng”, tên là “Độc lực tùy tướng”; chân và vọng hòa lẫn nhau, tên là “Câu hợp dộng tướng”, nó chính là “tế tướng” của thức A-Lại-Da, nên nói rằng “cái chẳng sanh chẳng diệt nó hòa lẫn nhau với cái có sanh-diệt”  .... Chín vì riêng Chân chẳng lập, lẻ Vọng chẳng thành, nên trong thức A-Lại-Da nó thông đồng cả Chân lẫn Vọng, mới gọi là tên  “Chân Cụ phần duy thức".

“Phi đồng phi khác” đó, chính là nói rõ nghĩa Chân-Vọng nó đều bất tức bất ly nhau, vì lý do rằng: trên Chân thì tùy duyên, trên Vọng thì thể không, nên chỉ Chân nó chẳng khác với Vọng; trên Chân nó chẳng biến, trên Vọng nó thành sự, nên chỉ Chân nó chẳng đồng nhau với Vọng. Cho nên kinh Thắng man nói: “chẳng nhiễm mà nhiễm, khó thể rõ biết; nhiễm mà chẳng nhiễm, cũng khó thể rõ biết”. Ngài Hiền-Thủ dùng theo ý chỉ kinh Lăng-già: lấy Như-Lai-Tạng làm “bất sanh bất diệt”, lấy 7 thức trước làm “sanh diệt”, 2 cái ấy nó hòa hợp lẫn lại, thành ra cái thức A-Lại-Da, nên chỉ thức A-Lại-Da nó hàm đủ cả hai cái sanh diệt và chẳng sanh diệt.

Nên biết, với trong "chân vọng hòa hợp, các thức theo duyên dấy” đấy, chung làm bốn câu:

1.- “Chỉ chẳng sanh diệt” bảo nó là "Như-Lai-Tạng", tỷ như cái tánh ước của nước.

2.- “Chỉ là sanh diệt" nghĩa là “7 thức trước”, tỷ như sóng dợn.

3.- “Cũng sanh diệt, cũng chẳng sanh diệt”, gọi “ A-Lại-thức”, ví như Biển nó hàm cả 2 hiện Tượng là Động và Tịnh.

4.- “Chẳng phải sanh diệt chẳng phải chẳng sanh diệt", tức là cái “Vô-Minh”, dụ như Nhơn gió nổi sóng.

Rằng : “A-Lại-Da thức” đó, chính là nêu cái tên của một “Thức- tâm" bằng “Chân Vọng hòa lẫn” làm một, mà nó cũng tên là “ A-Lại-Da, cũng kêu rằng “Tàng thức”, bởi vì các chúng sanh đều nhận lấy làm “ta” hay là bản ngã, Cái lẽ ấy là vầy : Chín bởi “chân như ” nó chẳng cố-thủ lấy tự tánh, là vì phải tùy theo biến-duyên của 8 thức để hòa hợp, bằng một cách “giống như một; giống như thường”; đó rồi kẻ ngu chả biết, lấy cái “giống tương tự” làm thật để chấp làm “nội-ngã” là chỗ thâu thuộc về “ngã kiến”, nên gọi là “Tàng”. Do 2 cái “ngã-kiến” ấy, trong cái vị trí chẳng sanh khởi, mất cái danh “A-Lái-Da”. Vì nó năng-tàng cái tự-thể của nó ở giữa các-pháp, mà nó cũng tàng các-pháp ở trong tự-thể của nó. Nên Luận nói: “năng-tàng, sở-tàng, ngã-ái chấp tàng”, là nghĩa đây vậy.

“Thức ấy có 2 nghĩa: giác, bất giác” đó do nơi cái “chân-tâm bất sanh diệt” trước kia, nên có nghĩa “giác”- chẳng mê-; Do nơi cái “Vọng-thức sanh diệt” trước kia, nên lập ra nghĩa “Bất giác” - mê - . Long-Thọ chép luận nói : “nghĩa giác ấy là cái khí-phận của chân-như; nghĩa bất-giác ấy, là cái khí-phận của vô-minh”. (Từ đây sắp xuống, mới là gom Pháp-tướng giáo)






On Human Origins

Written by Shramana Zong Mi at Straw Hall Monastery, Mt. Zhongnan


 

Preface

The myriad teeming beings have an origin; the source of the countless myriad things can be traced. Nothing exists as branches only; everything has roots, even the most spiritual beings among the Three Powers. How then could people lack an origin? The wise understand other beings; those who see clearly know themselves. If I do not know where I came from despite having inherited this human body, how will I know my destinies in future lifetimes? How will I understand people and events around the world, both past and present?

 

Therefore, instead of learning from one master alone, during a period of several decades I made a survey of both Buddhist and non-Buddhist thought in search of our origins. A relentless search finally led me to the source of our origins.

 

Confucianism and Taoism know only this: that, at the superficial level, we inherit our bodies in the lineage of our fathers and grandfathers. At the fundamental level, a vague and chaotic energy is divided into the duality of yin and yang. These two produce the triad of heaven, earth, and human beings. From this triad all things come forth. At their origin, all things and humans are energy.

 

Those who study the Buddhadharma, however, say that at the superficial level, we receive this body according to the karma we created in lives past. At the fundamental level, the origin of the body is karma due to delusion, which evolves from the ālaya -consciousness. Claims to the source of origin at both levels are not ultimate.

 

Confucius, Laozi, and Shakyamuni Buddha, however, were sages. They always offered different teachings, according to what was suitable to the time and place, using both Buddhist and non-Buddhist resources to benefit all and encourage people to practice in countless ways, to understand that causes are beginnings that end in effects, and to investigate the myriad teachings. Although all elucidations of what is fundamental and what is the end of the cycle of birth are sacred, some are ultimate and some are provisional. Confucianism and Taoism are provisional only, while Buddhism embodies both the ultimate and the provisional.

 

These teachings inspire countless practices that suppress evil and encourage what is good, so that all beings may return to health. Thus all three of the teachings may be followed. An exhaustive and thorough process of reasoning concerning the myriad phenomena bring us to the conclusion that Buddhism is the one teaching that can lead us to a complete understanding of our inherent nature’s origin. Even so, the scholars who insist nowadays on a particular school of Buddhism are confused about the truth. As a result, neither heaven nor earth nor beings have been able to gain an understanding of their origins.

 

In what follows I offer an analysis of the myriad phenomena based on Buddhist and non-Buddhist principles, moving from the simple to the profound. I hope that followers of the provisional teachings know that I disapprove of their attachments. I hope they will be freed from their stagnation and will be able to fully understand their origins. In the latter part of this essay, I will reveal the truth of the evolution and perpetuation of rebirth by integrating biased teachings with the perfect teaching so that those at the superficial level -- heaven, earth and beings – may apply it.

 

There are four parts to this essay, which I have entitled On Human Origins or An Essay on the Origin of Man.

 

1. A Reprimand for Confucians and Taoists for their Attachments

 

Confucianism and Taoism talk about how humans, animals, and other creatures are all born and nurtured by the hollow, immaterial and empty great Tao. That is, the Tao is spontaneous and is born out of primal energy. This primal energy produces heaven and earth, and then heaven and earth produce the myriad things; therefore, it is Heaven’s mandate whether one is intelligent or dull, noble or common, rich or poor, fortunate or unfortunate; it is merely a matter of fate. After death, all return to heaven and earth, back to that immaterial emptiness.

 

Non-Buddhist teachings are concerned with practices that rely upon this body rather than upon an understanding of the ultimate origin of this body. These teachings claim that every one of the multitudes of creatures originates in the great Tao, but they do not prepare their followers with the understanding that causes and conditions may be favorable or adverse, may develop and then cease, and may be pure or impure. Consequently they do not know that their teachings are provisional; they insist that their teachings lead to liberation.

 

Let me offer a simple example. It is said that the myriad creatures are born from the immaterial emptiness of the great Tao. The great Tao is said to be the source of the birth and death of both sages and fools; it is the foundation of both fortune and misfortune, of both accidents and blessings. But since this foundation exists eternally, accidents, chaos, misfortune, and stupidity cannot be made to disappear, and so blessings, good fortune, wisdom and goodness cannot grow. Then what use is there in the teachings of Laozi and Zhuangzi?

 

Also, the Tao nurtures tigers and wolves, gives birth to such rulers as Jie and Zhou, makes Yan Hui and Ran Gen die young, and permits catastrophes to befall Bo Yi and Shu Qi. How then could it be worthy of veneration? Furthermore, if all things came into being on their own rather than because of causes and conditions, then causes and conditions should be absent from the creation and development of things. Therefore rocks should be able to produce grass, grass to produce humans, humans to produce animals, and so forth. In addition, sequence would not exist in birth orders, day and night would not rule sleeping and waking. Immortals would have no need of elixirs; sages and good people would not be requisite for world peace, teaching and learning would not be needed for the development of humaneness and justice. Why, then, did Laozi, Zhuangzi, the Duke of Zhou and Confucius establish teachings as guidelines?

 

Moreover, Confucianist and Taoist teachings claim that everything is born and is brought to pass due to the primal energy. In that case however, our spontaneously developed psyche never learned how to think, so why can newborns already love and hate, be arrogant and indolent? If our psyche develops on its own and never learned how to think, how is it that as soon as they are born, people already have the capacity to love and to hate, to be arrogant and indolent? If one argues that love, hate, and everything else arise spontaneously, then we should be born with an understanding of the Five Virtues and the Six Arts. What need would there be for instruction before we can become accomplished in them?

 

Moreover, if we come into existence because of energy, and if at death our energy disperses, what then is our ghost or spirit?

 

Moreover, there are witness accounts of past lives. Therefore, we know that reincarnation occurs and that existence is not self-generated and not based on energy. In addition, there are verifications that ghosts and spirits continue to maintain an awareness, and so we know that their energy does not dissipate and naturally become nothing after death. That is the reason for the liturgies of prayer and sacrifice on behalf of people who are deceased. Finally, throughout history and still today, people who return to life after a near-death experience give reports of the afterlife, including their encounters with spouses and children, the vengeance they wreaked upon enemies, and the rewards they bestowed upon benefactors.

 

Non-Buddhists will object that if humans became ghosts after death, then the streets should be crowded with the ghosts of humans who have lived since ancient times. We ought to be able to see them, but do not. But when humans die, they may enter any one of the six realms, not necessarily the ghost-realm. Not only do people not necessarily become ghosts; ghosts themselves become humans and other beings. They have not actually been accumulating since ancient times.

 

Moreover, the energy of the universe is not itself self-aware. Could humans come into existence of their own accord and be self-aware, if they originated from an energy that is not self-aware? Grass and plants are also based on energy; why then are they not self-aware? If, as non-Buddhists claim, poverty and wealth, nobility and commoners, wisdom and folly, good and evil, blessings and misfortune, disasters and blessings are all simply a matter of fate, why would the mandate of heaven be that the poor are many and the affluent are few, that the base are many and the noble-minded are few, that accidents are many and blessings are few? Why would heaven be so unfair in deciding which of each of these to dispense?

 

Besides, some people enjoy high status despite their immoral conduct, while well-behaved people may well be of the lowest status. Some who have no virtue are nevertheless wealthy, while others who are virtuous are poor; some trouble-makers enjoy good fortune, while misfortune falls upon the righteous. Some who are humane die young, while the violent live long lives. Even sages who have the Tao may die suddenly; others prosper though they do not have the Tao. If everything were decided by Heaven, would not Heaven strengthen the Tao rather than weaken it? Would it not reward the blessed, the good, the helpful, and the humble, and would it not punish the criminal, the immoral, the harmful, and the proud? Are accidents, chaos, revolts and rebellions all based on fate?

 

Finally, if all were decided by heaven, then the sages would not have taught that people and not heaven are to blame. They would not have faulted the living instead of faulting life. The Book of Odes criticizes chaos in government, the Book of History praises emperors who rule by the Tao, the Book of Propriety calls for peace everywhere, and the Book of Music changes social trends—none of these involve devotion to a God or compliance with a Creator. We can conclude that those who hold this teaching in high esteem have not understood human origins.

 

2. A Reprimand for the Prejudice and Shallowness of Buddhists Who Misunderstand the Teachings

 

There are in general five levels of Buddhist teachings that range from the simple to the profound. The first is the teaching for humans and gods, the second is the Theravadan teachings, the third is the Mahayana teaching of the Attributes of Phenomena, the fourth is the Mahayana teaching of seeing through marks (this fourth teaching includes the three previous), and the fifth is the teaching of the One Vehicle that reveals that which is true (this fifth teaching includes the third). For people who are new to Buddhism, the Buddha first spoke about the karmic retributions of the three periods of time and the cause and effect of good and evil. People who commit the ten evil acts to the most egregious degree will plummet into the hells upon death; those whose acts are evil to a more moderate degree will reborn as hungry ghosts, and those whose evil acts are the least serious will be reborn as animals. Therefore, for people’s sakes the Buddha modeled the teachings of the Five Precepts into the Five Virtues so that people would keep them. (Secular Indian teachings and rites, despite their differences, are also concerned with punishing evil and encouraging good. They are also included in the teachings of the Five Virtues of humaneness, justice, etc.) For instance, people raise their hands and put their palms together in this country, while Turks drop their arms by the side; both are gestures of courtesy.

 

Because he wanted people to avoid the three evil destinies and to be reborn as humans, the Buddha, too, wanted them to keep the Five Precepts (not to kill is to be humane; not to steal is to be just; not to commit sexual misconduct is to accord with propriety; not to lie is to be trustworthy; and not to take intoxicants or eat meat cleanses our energy, and that helps to foster wisdom). The Buddha wanted people to practice the Ten Good Deeds at the highest level – to practice giving, to keep the precepts, and so forth, in order to be reborn in the Six Desire Heavens. He wanted them to cultivate the Four Dhyānas and the Eight Samādhis in order to be in the Heavens of Form Realm and the Heavens Beyond Form. (The title of this essay suggests that the discussion will be confined to human origins, and that it will not discuss gods, ghosts and beings in the hells. This is because normally we do not see or hear them or their realms. Ordinary people are not even aware of the superficial; even less to investigate what is fundamental. Therefore, for secular learning, only the origin of humanity is indicated. However, now that I am describing the principles in Buddhist sutras, it is best that all the destinies arelisted.) In short, karma is a teaching for humans and gods. (There are three kinds of karma: evil karma, good karma, and neutral karma, and there are three kinds of retribution: immediate retribution, retribution in this life, and retribution in later lives).

 

According to this teaching, karma is the origin of the body. I now conclude that, due to our karma, we receive a body in one of the five destinies, among the five paths due to karma. No one is acting as judge to see who is creating karma and who is undergoing retribution. Now, we cannot say that the eyes, ears, hands and feet can create karma, since the newly deceased still have their eyes, ears, hands and feet intact, but we don’t see them create anything. We may say that the mind creates karma, but what is this mind? We may say it is the physical heart, but how could the heart reach the eyes and ears so quickly as to differentiate between right and wrong? If it does not know about right and wrong, how could it choose? In addition, the heart, the eyes, the ears, the hands and the feet are separate material objects; how could they move at the same time and cooperate to create karma and the conditions leading to such karma? You may claim that joy and anger, love and hatred drive the body and the mouth to create karma, but joy, anger, and other emotions come and go suddenly and are themselves immaterial; how could they be the creators of karma?

 

If you hypothesize that this claim is incorrect and analyze each one, you will find that it is the body and mind that create karma. Who undergoes the retribution of pain and joy after death? If you claim there is another body after death, would that mean offenses created by and blessings cultivated by the present body and mind become pain and joy for some future body and mind?According to this line of thinking, those who cultivate blessings seem wronged while those create offenses are too fortunate. How could universal principles be so unreasonable? It is therefore clear that the adherents of such a teaching may believe in the conditions of karma, but they have not discerned the origin of the body.

 

Secondly, the Lesser Vehicle teaches that, since time immemorial, the physical form and the thinking mind come and go continually from instant to instant due to the power of causes and conditions. Like trickling water or a burning lamp, the body and mind are false unions that appear to be one and permanent. Ordinary people are too foolish to notice this, and they are attached to the self. Since they treasure this self, they generate the three poisons of greed (greed for fame and fortune in order to glorify the self), anger (in response to unexpected hatefulcircumstances that they fear will harm the self), and delusion (irrational ideas and comparisons). These three poisons motivate the body and the mind to create all kinds of karma. Since they are unable to escape the karma they have created, they become bodies that experience pain, joy and other emotions in any of the Five Destinies -- this is a result of individual karma – and they lead their lives in the superior, inferior, or middling locations of the Three Realms, which is a result of collective karma. In that body that one receives, one is still attached to what one considers to be the self, indulging in greed, anger, and delusion, creating karma and receiving retributions. The body is born, ages, becomes sick, and dies. It is born again after death. The worlds, too, are formed, abide, deteriorate, and become void, then once again are formed after becoming void.

 

Here is a verse on how a new world is created after a Kalpa of Emptiness. It says:

 

In the realm of emptiness a great wind blew,

Reaching an area uncountable in size.

As thick as sixteen laksas,

It could not be destroyed by vajra;

So named is this Wind that Holds Up Worlds.

Sounds of light in golden treasury clouds

Spread about the three thousand great thousand worlds,

While raindrops like cart axes fell.

The wind curtailed the water flow

That ran eleven laksas deep.

First created here is the vajra realm,

Then come the golden treasury clouds

Pouring rain to fill up this realm.

Created first was the Brahma King’s bounds

Then on and up to the Heaven of Suyama.

Winds flapped to create water that is clear;

The seven gems and other metals surfaced in Mt. Sumeru;

Muddy sediments turned into mountains and landmasses,

The four continents and farming soil,

Until all was surrounded by the salty sea.

Thus is formed the dependent retribution realm.

This creation lasted one eon of increase then decrease

Until the blessed beings of Second Dhyāna

Descended onto the human realm.

 

These beings first ate harvests from the earth and tree vines. Later, they began to urinate and defecate because they could not digest the grains. As differences between males and females formed, people began to divide up land, establish leaders, and seek out ministers and aides. A host of differences existed. This lasted 19 cycles of increasing eons and decreasing eons. In addition to the first cycle, a total of twenty cycles of increasing eons and decreasing eons make up what is called the Kalpa of Formation.

 

One may argue: “The Kalpa of Emptiness for the world is the Taoists’ hollow and illusory Tao.” However, the substance of the Tao shines quietly and connects with the spiritual; it is not hollow and void. Taoists may be confused or provide a provisional theory to eliminate people’s desire. Therefore they refer to the realm of emptiness as the Tao and the huge wind in the emptiness realm that as hazy chaotic energy. This is why they say, “The Tao produces the One” and the clouds of golden treasury are the beginnings of energy per se, which is taiji.

 

The uninterrupted rain is the congealed yin energy. When yin and yang combine, production occurs. The Brahma King’s realm and on up to Mt. Sumeru are the heavens while the muddy sediments are earth. This is why they say, “The One produces the Two.” Beings in the Second Dhyāna used up their blessings and descended to become born as human beings. This is where, “The Two produces the Triad”; hence the three elements that make an universe were replete.

 

From “harvests from the earth” and on down refer to how “the myriad things are born from the Triad.” This should be the time prior to the three emperors, when people lived in caves and ate in the wilds. There was no fire and so forth yet. Since there was no language to record these things, future generations misunderstood and circulated the wrong information. Thus various schools authored different theories. Furthermore, Buddhism’s clarifications are on the three thousand worlds and are not limited to China; therefore, Buddhist and non-Buddhist texts and terms are not exactly the same.

 

The Kalpa of Dwelling also goes through 20 cycles of an increasing eons and a decreasing eons. The Kalpa of Deterioration goes through 20 cycles too. During the first 19 cycles of increase and decrease, sentient beings deteriorate while in the last cycle of increase and decrease, the realm of the external environment deteriorates. The three disasters of fire, water and wind are destroyed too. The Kalpa of Emptiness also lasts 20 cycles of increase and decrease. The worlds and all sentient beings are emptied.

 

The cycle of transmigration continues in kalpa after kalpa and life after life. Like the water wheel that fetches water, it has no beginning and no end. (Taoists only know that before this world was formed, it was once void, and called it that hollow chaos, the primal beginning. They do not know that the realm of emptiness starts again after billions and billions of repeated cycles of formation, dwelling, deterioration and emptiness. Therefore know that the shallowest teachings in Theravadan Buddhism already far surpass the most profound theories of the non-Buddhists.) This is all a result of not understanding that this body is essentially not “me”, which means that this body is actually a mark of union between form and mind.

 

Let me now analyze this. The forms are the four elements of earth, water, fire, and wind. The mind has the four skandhas of feeling (feeling and accepting good and evil), cognition (seizing imagery), formation (creating a stream of consciousness), and consciousness (making distinctions). If they are all “me”, then there are eight of me. Not to mention there are so many things on this body, many of which are of the element earth, for instance. Let us say each being has 360 segments of bones; if each segment is distinct, so skin, hair, ligaments, flesh, liver, heart, spleen, and kidneys are not the same. Their various consciousnesses of the mind are all distinct too. Seeing is not hearing; joy is not anger. Apply this in turn to the 84,000 onerous objects. Given the multitude of things in one body, how would you decipher which is me? If they are all me, then I am in hundreds and thousands of different pieces. The body is in chaos with so many bosses. There are no other dharmas outside of this.

 

Search for that self and it cannot be found. One then realizes that this body is the coming together of a multitude of conditions and that originally there is no self or others. For whom are you greedy and angry? For whom do you kill, steal, give, and keep the precepts (the truth of knowing suffering) ? After thinking about all this, one will not allow one’s mind to stagnate in the good and bad of the Triple Realm that contain outflow (the truth of eliminating accumulation). Instead, cultivate the wisdom that contemplates no-self (the truth of the Way) to sever greed and other poisons, cease all karma, and certify to the True Thusness that is devoid of a self (the truth of extinction). One only ends all suffering when one acquires the fruition of arhatship, when one’s body is considered ash and the intellect is extinguished.

 

According to this school, the two dharmas of form and mind, as well as greed, hatred and delusion are the fundamentals to the senses, the body and the material realm that is our retribution. There is no other fundamental dharma in the past or future. I raise this issue: “Those who go through lives of physical bodies must still have an inherent substance that continues without interruption. Now, the five consciousnesses do not occur without conditions (senses, states and others are the conditions), and the mind consciousness sometimes does not act (due to suffocation, sleep, being in the Samādhi of complete extinction, being in the Samādhi of no thought, abiding in the No Thought Heaven, and abiding in the Heavens of the Formless Realm). Besides, the Heavens of the Formless Realm do not have these four elements; how can we keep the same body life after life?” Thus we know those who focus on such a teaching have not reached the origin of the body.

 

Thirdly, the teachings of the Dharma Mark of the Great Vehicle say, “All sentient beings since time immemorial have eight types of consciousness. Among them, the ālaya consciousness is the root. It suddenly changes and becomes the sense faculties, the body, and the material realm. Then the seeds in this consciousness turn into the seventh consciousness. It alters and manifests what we condition.” Hence no dharma is real; how does it change?

 

They say, “By the power of being permeated with the discriminations of the self, when all the consciousnesses come into being, they change into a likeness of the dharma of self. Being covered over by ignorance, the sixth and seventh consciousnesses are attached to a real self and real dharmas. For instance, people who experience hallucinations (people seriously sick are muddled and will see strange forms and characters) and dreams (dreams that are seen and remembered) seem to experience in their minds the marks of various external states. They mistake them to be real in their dreams. They only realize that all this is a dream when they wake up. Our bodies are the same way, manifesting due to our consciousness only. Confused, we are attached to the existence of a self and all the states, which lead to delusion and karma, endless cycles of birth and death (as explained earlier). Only by knowing this principle, will we know that our body manifests because of consciousness only. Consciousness is the origin of the body” (the unclear parts will be refuted later).

 

Fourth, the Great Vehicle teaching of Seeing Through the Marks refutes the Great Vehicle and the Small Vehicle’s aforementioned attachment to the Mark of Dharmas and henceforth secretly reveals the principle on the inherent nature being empty and quiescent. (The discussion on Seeing Through Marks is not limited only to the prajñās, but applies to the Great Vehicle sutras. The first three teachings above refuted the Marks in order. This teaching refutes attachments as soon as they exist, without a designated time. This is why Nagarjuna established the two prajñās: 1. common, 2. unique. Those of the Two Vehicles believe and understand common prajñā as soon as they hear it. Here, the Theravadan’s attachment to the Dharma is shattered. Only Bodhisattvas understand the unique prajñā because the Buddha nature is revealed in secret. This is why the two Indian shastra masters, Jie Xian and Zhi Guang both established teachings for the three periods of time, which is this teaching on emptiness. Their delineations may have occurred before or after the thoughts on Consciousness-Only and Dharma Marks-- I believe it came later.)

 

Before refuting this theory, first let me raise this issue: “Since the manifested states are false, how could the consciousness that creates the manifestations be real? If you say one exists and the other is void (this will be refuted later with an analogy), then your dream should be different from the objects you see in your dream. If they are different, then the dreams are not the things in your dreams, the things in your dreams are not the dreams. When you wake up and the dream ends, the things in the dreams should still be present. On the other hand, if the things in the dreams are not the dreams, they should be real things. If dreams are not those things, what are the traits of dreams? Therefore, one should know that the dream and the objects in the dream are as different as that which sees and that which is seen. They are equally illusory and false, non-existent according to this principle. All the consciousnesses are this way; they are all false as they depend on the multitude of conditions and have no nature of a self.”

 

Hence the Shastra on the Middle Contemplation states: “None of the dharmas fails to come from causes and conditions; thus all dharmas are empty without exception.” It further states, “I say the dharmas that come into being because of causes and conditions are just emptiness.” Faith in the Mahayana Shastra says: “All dharmas are only different because of false thoughts. If they were apart from thought, there would be no mark to all of the states.” The sutras say: “All marks are illusory and false. Part with all marks and that is to be the Buddhas.” (lines of this sort pervade the Mahayana canon). Therefore, know that the mind and its states are all empty– this is a true Mahayana principle. With regard to the origin of the body, the body was originally empty; emptiness is the origin.

 

Now let me again cross-examine this teaching: “If the mind and its states are all empty, who is it that knows they are empty? In addition, if no dharma is real, upon what does all the manifested illusory falseness depend? Furthermore, all the illusory and false objects we now see in the world, without exception, develop by not relying on the true Dharma. For instance, if water has no quality of wetness to it, how could there be waves with illusory and false traits? If there are no pure, clear, and unchanging states, how could there be various shadows for illusory falseness?”

 

In addition, as aforementioned, “Dreams and states in the dreams are both illusory and false” indeed. However, these illusory and false dreams must be based upon the individual who is sleeping. Now this teaching explains that both the mind and its states are empty, but it has not evaluated the basis upon which the false manifest. Therefore, one ought to know that this teaching only shatters emotional attachment, but has not yet made explicit the true spiritual nature. Therefore, the Sutra on the Dharma Drum states, “The Sutra of Everything Being Empty is incomplete (incomplete in the sense that the meanings therein will not lead to liberation completely).” The Great Prajñā Sutra states, “Emptiness is a beginning step in the Great Vehicle.”

 

The above four teachings connect and support one another. The earlier ones are more simple, while the latter ones are more profound. If you study it for the time being, you should know that it is not about complete liberation; hence it is simple. If you were attached to liberation, that would be an extreme. Those who study this teaching may be extreme and shallow.

 

3. A Direct Revelation on the True Source, the Buddha’s True Teachings on Liberation

 

Fifth, the teachings of the nature manifested according to the One Vehicle say, “All sentient beings have the true mind that is fundamentally enlightened, dwelling constantly in purity since time immemorial. It is bright and never obscured; it is clear and always knows. It is also called the Buddha nature and the Treasury of the Tathāgata.” From the bounds of beginningless time, false marks have occluded us without us realizing it. When we can only identify with ordinary material, we indulge in creating karma and face the suffering of birth and death. The Greatly Enlightened One sympathizes with us and tells us that everything is empty. He then instructs us on how the spiritually awakened True Mind is pure like that of all Buddhas.

 

Therefore, the Avatamsaka Sutra states, “Disciples of the Buddha, there is not one being who is devoid of the wisdom of the Thus Come One; it is only because of false thinking and attachments that one does not certify to it. Part with false thoughts and All Wisdom; natural wisdom and unobstructed wisdom all manifest.” The Sutra then names the metaphor of “one dust mote containing all rolls of sutras in a universe.” Dust motes are analogous to living beings; the sutras are analogous to the Buddhas’ wisdom.

 

It later states, “At that time, the Thus Come One universally contemplates all beings in the Dharma Realm and said, ‘Strange indeed, strange indeed, why is it that all these beings have the Tathāgata's wisdom but are deluded and blind to it? I shall teach them the holy path so that they forever abandon false thoughts, and therefore will see that they have the Thus Come Ones’ vast wisdom, similar to the Buddha.”

 

One commentary states, “We did not meet the true school of teachings in many kalpas. We did not know enough to return to our origin. Instead, we were simply attached to illusory and false marks, willingly submitted to being ordinary or below average, to being animals or humans. Now that the teaching on reaching our origin has been explained, we finally realize that we were originally Buddhas. Therefore we should conduct ourselves the way Buddhas do and let our minds correspond with the Buddhas’ minds. Return to the source of origin and eliminate all usual habits, reducing them until they become unconditioned and natural, wielding as many functions as grains of sand in the Ganges. That is a Buddha. We ought to know that confusion and enlightenment are of the same true mind. Great is this wonderful gate.” The discussion on the origin of man ends here.

 

(Actually, the Five Teachings that the Buddha explained are both gradual and sudden. Those of average or below average faculties can be taught them in time, from the simplest to the profound. The Buddha provided an initial teaching so that living beings may leave behind evil and abide in goodness. Next, he offered the second and third set of teachings so that we may leave behind defilement and abide in purity. Lastly, he explained the fourth and fifth teachings to shatter attachments to outer marks and reveal the inherent nature, comprehending with the provisional but returning to the real. Cultivate according to the Real Teachings until Buddhahood is accomplished. Those with the most superior faculties then start at the end of the list, then move back up. Begin with the fifth, which instantaneously points to the substance of the one true mind. Since the mind substance is revealed, one will realize that all are illusory and false, empty and quiescent. However, since confusion occurs on the basis of actuality, one must achieve the wisdom of actuality so as to end evil and cultivate goodness, quell falseness and return to the truth. When falseness is completely gone and there is true perfection, that is the Dharma body of the Buddha.)

 

4. A Conclusion Connecting the Roots and the Branches, Being that the Source of Our Origin and the Teachings Reproved of Earlier are the Same and All are Proper Understanding

 

Although the true nature is the origin of the body, there are reasons why birth occurs. The physical body does not come into being for no reason. However, the teachings discussed earlier are incomplete, and therefore rebuked at every turn. Now we will connect the core to the tip of the branch, including Confucianism and Taoism (we begin with the fifth set of teachings on the inherent nature and work back up. Beyond that, each level points to different teachings. There are commentaries that explain each level separately).

 

At the beginning there was only the one true spiritual nature that does not come into being or cease, does not increase or decrease, does not change or alter. It is only because of living beings’ confusion and sleeping state since time immemorial that they do not realize it. Since the spiritual nature is hidden, we call it the hidden Treasury of the Thus Come One. Marks of the mind come into being and cease because of the Treasury of the Thus Come One (what follows is the fourth teaching, of which all marks of coming into being and ceasing are refuted altogether).

 

As it is said, the true mind that does not come into being or cease comes together with false thoughts that come into being and cease; they are neither one nor different. This is the ālaya consciousness. This consciousness contains two aspects, that which is aware and that which is unaware (what follows is similar to the third set of teachings on the marks of Dharma). The very first stirring of thought dependent upon that which is unaware is a mark of karma. 

 

Furthermore, the ālaya consciousness is not aware that this thought is fundamentally empty, turning the thought into the seeing consciousness. When the marks of states that we view manifest, the ālaya consciousness is not aware that these states manifest falsely from the inherent mind and becomes attached to the certainty of these states’ existence, which is an attachment to the Dharma (what follows is similar to the second set of teaching of the Theravadans). Being attached in this way, we then see the difference between self and others, being attached to the self.

 

Attached to the self, greedy love, agreeable sentiments and all such states nourish us; whereas hateful detest, disagreeable sentiments and all such states unfortunately harm and distress us as delusions multiply and grow (what follows is similar to the first set of teachings on humans and gods). Spirits with the intent to kill or steal will ride on such evil karma and cause us to be reborn in the hells, the realm of ghosts, the realm of animals or others.

 

Furthermore, those who are afraid of such suffering, those who are kind by nature, and those who practice giving, precepts and other beneficial behavior, will in their minds ride on such good karma, carrying the karma into the mid-skandha body, then into their mother’s womb (what follows is similar to Confucianism and Taoism as aforementioned). We acquire our material existence from inherited energy and essence (connecting with their explanation that energy is the origin). Energy suddenly acquires the four elements, which gradually develop into various sense faculties. The mind suddenly acquires the four skandhas, which gradually develop into various consciousnesses. After a full ten months in the womb, we are born as human beings, with our present body and mind. Therefore we know that the body and the mind each have its own origin; the two combine to create one individual. Gods, asuras and others are approximately the same.

 

Not only did past karma lead us to this body, it also makes karma happen. We therefore experience nobility or baseness, poverty or affluence, longevity or early death, poor health or health, prosperity or decline, suffering or happiness. As it is said, the causes of respect and conceit in previous lives attract the outcomes of nobility and baseness now. It is similarly so for humaneness and longevity, violence and early death, giving and wealth, miserliness and poverty–I cannot list all the various retributions comprehensively.

 

Whether this body experiences accidents without having committed any apparent evil, experiences blessings without having created any apparent goodness, lives a long life though inhumane, dies young though refrains from killing etc., is due to the fulfillment of designated karma from past lives. So even if you act differently in this life than in lives past, karma naturally turns you into who you are now. Non-Buddhist scholars defer to the status quo without knowledge of past lives, hence insisting that our lives are spontaneous occurrences (connectingwith their explanation that spontaneity is the origin).

 

Furthermore, there are those who cultivated good deeds while young and committed evil during old age or vice versa; therefore they are affluent and happy while young and lowly and in pain when older and vice versa. Non-Buddhist scholars do not understand this but are only attached to the timing of misfortunes and fortunes (connecting with their explanation that all is based on fate).

 

Actually, analyze logically the source of this energy we inherit, and it is the one primary energy. Investigate exhaustively the mind that arises, and it is the one true spiritual mind. The truth is that there is no other dharma to speak truthfully about outside of the mind. The primary energy follows changes of the mind. The primary energy is a state that the aforementioned turning consciousness manifests, which is gathered in by the marks of the ālaya consciousness.

 

From that very first thought, the marks of karma divide into the duality of thoughts and states. Thoughts go from the refined to the crude, deliberating falsely in turn and even creating karma (as described in the earlier list). States also move from the subtle to the attached, changing at every turn. Such states include the formation of heaven and earth (“The start of which beginswith the five stages of evolution from taiyi before energy) to taiji (chaotic energy). Taiji produces duality”, they say. They call this the natural Tao. They describe the true nature in this way. Actually they are but one thought that can transform into seeing. They say “The primal energy is just this way. An initial movement of thought is actually a mark of states.” Since karma is ripe, we inherit the two energies from our parents and come together with karma and consciousness to realize the human body.

 

According to this, the states manifested by the mind’s consciousness then become two. One comes together with the mind’s consciousness and causes us to becomes humans. The other does not come together with the mind’s consciousness and instead becomes heaven and earth, mountains and rivers, countries and towns. Among the three key elements that form the universe, humans are most superior because they come together with the spirits of the mind. When the Buddha said that the internal four elements are different from the external four elements, he was referring to this precisely.

 

How unfortunate the unlearned are! They are attached to a profusion of different thoughts. I encourage those who wish to learn the Way, “If you wish to become Buddhas, examine these teachings thoroughly, from the crudest to the most refined, from the roots to the branches, so that you will abandon the superficialities and return to the origin, as well as reflect upon the source of the mind.” Once that which is coarse and that which is refined are eliminated, then the spiritual nature manifests. Understanding all dharmas without exception, one accesses what is called the Dharma retribution body. Appearing to respond to infinite situations, one becomes what is called a transformation body.

 

The end of An Essay on the Origin of Man.

Comments

Popular posts from this blog